Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Thành cổ Hà Nội:
thanh_co_ha_noi.jpgThành cổ xưa nằm trong một khuôn viên khá rộng, phía tây giáp phường Hoàng Diệu, phía đông giáp đường Nguyễn Tri Phương, phía nam giáp đường Trần Phú, phía bắc giới hạn bởi phố Phan Đình Phùng, thuộc quận Ba Đình.
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, toà thành được xây dựng và mở rộng ở các vương triều sau. Thành Thăng Long được qui hoạch kiểu "Tam trùng thành quách" với ba vòng thành lồng nhau. Cấm thành, hay Long Phượng thành thời Lý - Trần ở trong cùng, là khu vực hoàng cung. Hoàng thành ở giữa bọc lấy khu kinh tế thị dân ở phía đông. Ngoài cùng là dải La thành hay Đại La thành. Năm 1805, nhà Nguyễn xây thành Hà Nội đã giữ lại khu vực Cấm thành làm hành cung cho vua ở mỗi khi tuần du phía bắc. Thời Pháp, khi phá thành Hà Nội, nguời Pháp cũng giữ lại khu này làm chỉ huy sở của quân đội.
Năm công trình kiến trúc cổ còn sót lại sau khi Pháp phá thành Hà nội, tính từ phía nam lên bắc gồm các hạng mục sau: Cột cờ, cửa Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu và cửa chính Bắc Môn.
Cửa Đoan Môn là toà duy nhất còn được giữ lại trong tổng thể, bao gồm một vọng lầu có hai tầng, lầu trên tám mái, dưới gồm một lối vào mở năm cửa lớn. Phía trên cổng chính, mặt nam còn hàng chữ "Đoan Môn". Hiện nay Đoan Môn còn tương đối nguyên vẹn.
Điện Kính Thiên, điện bị phá năm 1886 để làm toà nhà ban chỉ huy pháo binh (quân đội Pháp). Hiện chỉ còn lại những bậc thềm đá với hai hàng lan can rồng đá ở giữa, hai hàng lan can đá chạm khắc hai bên ở phía nam, phía bắc cũng có một bậc thềm trang trí rồng đá. Tam cấp ở điện Kính Thiên ở mặt nam có tất cả 10 bậc, mặt bắc có bảy bậc do những viên đá lớn ghép lại.
Hậu Lâu, còn gọi là Lầu công chúa, xây bằng gạch, phía dưới hình hộp, trên là công trình kiến trúc ba tầng. Lầu dưới có ba tầng mái, lầu trên là hai tầng mái.
Bắc Môn, có dạng hình thang mà hai bên là hình tam giác, lòng hình vòm cuốn xây bằng gạch, mép cửa kè đá hình chữ nhật, diềm trên bằng đá trang trí nền cánh sen. Phía bắc cửa có tấm biển đá viết chữ Hán "Chính Bắc Môn". Bên cạnh phía phải cũng gắn một tấm biển đá khắc ngày 25-4-1882 và hai vết đạn đại bác - dấu vết của cuộc chiến tranh với Pháp. Cửa thành vẫn còn, Vọng Lâu ở trên nền cổng thành đã bị phá. Thành phố đã làm lại Vọng Lâu để khôi phục lại vẻ đường bệ, chững chạc vốn có của nó.
Năm điểm di tích trên tuy quy mô kiến trúc không lớn, song cùng với những di tích còn nằm lại dưới lòng đất minh chứng về một trung tâm chính trị, kinh đô của đất nước suốt gần nghìn năm lịch sử.
Ở phía nam thành cổ Hà Nội, còn lưu lại một phần kiến trúc của trường đại học đầu tiên ở Việt Nam: Văn Miếu - Quốc Tử Giám khởi dựng vào đầu thế kỉ XI dưới thời nhà Lý.

Đến đây bạn có thể chọn được nhiều khách sạn phù hợp với mình. Khách Sạn Zen Hà Nội ở 35 Quán Thánh, Quận Ba Đình, Hà Nội.

Sau khi thăm thành cổ Hà Nội bạn có thể tiếp tục thăm quan các địa điểm du lịch của Hà Nội như:

Cột Cờ:
cot_co.jpgCột cờ là một trong những công trình kiến trúc thuộc khu vực thành cổ Hà Nội còn nguyên vẹn.
Cột cờ nằm trong khuôn viên Bảo tàng Quân đội, đường Điện Biên Phủ, phường Điện Biên, quận Ba Đình.
Xây dựng năm 1812 dưới triều vua Gia Long, cột cờ gồm ba tầng bệ, thân cột và hệ thống cầu thang xoáy bên trong. Ba tầng dưới là ba khối vuông xây chồng lên nhau từ to đến nhỏ, trên cùng là thân cột cao chừng 20 m, hình lục lăng, có trổ các cửa hoa nhỏ để tạo không khí và ánh sáng cho bên trong. Đỉnh cột hình bát giác, có trụ để cắm cờ, trèo lên đỉnh cao nhất sẽ bao quát được toàn bộ khu vực xung quanh.
Hồ Trúc Bạch:
ho_truc_bach.jpgHồ Trúc Bạch cách Hồ Tây bởi con đường Thanh Niên. Đường Thanh Niên có từ năm 1957 - 1958 theo ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi hồ được thanh niên học sinh Hà Nội lao động trong những ngày thứ bảy cộng sản mở rộng như ngày nay. Trước gọi là đường Cổ Ngư, hình thành từ một con đê hẹp được đắp ngăn một góc Hồ Tây.
Hồ Trúc Bạch có từ thế kỉ XVII khi dân hai làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp con đê ngăn góc đông nam Hồ Tây để nuôi bắt cá. Từ khi thành một hồ biệt lập, hồ đã đi vào thư tịch cổ. Sách "Tây Hồ chí" cho biết nguyên ở phía nam hồ có làng Trúc Yên, có nghề làm mành, do đó nhà nào cũng trồng trúc, trúc mọc như rừng. Thời chúa Trịnh Giang (1729 - 1740) xây ở đây một cung điện gọi là Viện Trúc Lâm. Về sau, viện trở thành nơi giam cầm những cung nữ có lỗi, phải dệt lụa để mưu sinh. Lụa đẹp, bóng bẩy, nổi tiếng khắp kinh thành, gọi là lụa làng Trúc.
Ven hồ Trúc Bạch có nhiều di tích lịch sử và công trình kiến trúc đặc sắc như đền Quán Thánh ở ngay góc tây nam hồ. Phía đông có chùa Châu Long (phố Châu Long), tương truyền xây từ thời Trần, là nơi tu hành của công chúa con vua Trần Nhân Tông. Có đền An Trì, nơi thờ Uy Đô, một anh hùng chống quân Nguyên.
Ba phía chung quanh hồ phố xá che khuất, chỉ có phía tây giáp đường Thanh Niên mới bày ra vẻ đẹp êm ả phẳng lặng của mặt hồ. Phía bắc hồ có một gò đất nhỏ, trên gò có đền thờ Cẩu Nhi gắn với chuyện Lý Công Uẩn dời đô.
Hồ Trúc Bạch cùng với công viên Lý Tự Trọng và Hồ Tây tạo thành một tổng thể thiên nhiên hài hoà, làm thành một thắng cảnh đẹp của thủ đô Hà Nội.
Phủ Chủ tịch:
phu_chu_tich.jpgPhủ Chủ tịch là toà nhà bốn tầng nhìn ra đường Hùng Vương, được xây dựng năm 1901. Thời Pháp thuộc, đây là nơi ở và làm việc của Toàn quyền Pháp ở Đông Dương (có tên là Phủ Toàn quyền). Hiện nay, địa điểm này là nơi các vị đứng đầu Nhà nước ta tiếp đón các đoàn khách quan trọng nước ngoài và là nơi để các đại sứ các nước đến trình quốc thư.
Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp Hội đồng Chính phủ.
Quảng trường Ba Đình:
quang_truong_ba_dinh.jpgHà Nội là trái tim của nước Việt Nam, Quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Tại đây đã diễn ra những sự kiện trọng đại của thủ đô và cả nước. Ngày trước, đây vốn là khu vực cửa tây của thành Hà Nội cổ. Thực dân Pháp phá thành làm một vườn hoa nhỏ gọi là điểm tròn Puy-gi-ni-nơ. Năm 1945 mới có tên là vườn hoa Ba Đình. Chữ Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hoá, nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9 -1886 đến tháng 1-1887.
Quảng trường là nơi chứng kiến hàng trăm nghìn người về dự lễ Độc lập ngày 2-9-1945. Ngày 9-9-1969, sáu ngày sau khi Hồ Chủ tịch qua đời, tại Quảng trường này, đồng bào thủ đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đã tới đây dự lễ truy điệu trọng thể vị Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất.
Ngày nay, mặt chính của quảng trường là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước lăng là khoảng không gian rộng lớn với 320m chiều dài và 100m chiều rộng, đủ chỗ cho 200 nghìn người dự mít tinh. Quảng trường có 168 ô cỏ bốn mùa xanh tươi. Chính giữa là cột cờ. Quảng trường Ba Đình đã trở thành không gian thiêng liêng của thủ đô Hà Nội.
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh:
lang_chu_tich.jpgLăng là nơi giữ gìn thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có mặt chính nhìn ra Quảng trường Ba Đình lịch sử. Đây là kết quả lao động sáng tạo của các nhà khoa học Nga và Việt Nam. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi an nghỉ vĩnh hằng của người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Lăng chính thức được khởi công ngày 2/9/1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa quảng trường Ba Đình, nơi Bác Hồ đã từng chủ tọa các cuộc mít tinh lớn.
Lăng được khánh thành vào ngày 29/8/1975. Toàn bộ khu di tích lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh rộng 14ha. Lăng cao 21,6m gồm ba lớp. Lớp dưới tạo dáng bậc thềm là lễ đài dành cho Đoàn Chủ tịch trong các cuộc mít tinh. Lớp giữa, phần trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông ốp đá hoa cương, nhìn từ bên ngoài, mặt nào cũng thấy năm khoảng đều nhau, gợi nhớ ngôi nhà năm gian truyền thống Việt Nam. Lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp bằng đá hồng ngọc mầu mận chín. Nhìn tổng thể lăng có hình bông hoa sen cách điệu.
Trước mặt lăng có cột cờ cao 30m. Hàng tre ngà hai bên biểu tượng hình ảnh làng quê Việt Nam. Hai bên trái và phải ở mặt trước lăng được trồng 18 cây vạn tuế (mỗi bên chín cây). Vào gần hơn, hai bên cửa lăng là hai cây đại, tượng trưng cho sự trong sáng, thanh cao của Bác Hồ.
Ở mặt chính lăng có dòng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá hồng ngọc màu mận chín. Hai bên lăng là vườn cây, hoa quả tiêu biểu của các vùng quê Việt Nam bốn mùa tươi tốt, quần tụ toả bóng mát và trổ hoa.
Bước vào phòng ngoài, trước mặt trên tường đá hoa cương màu đỏ sẫm có hàng chữ vàng óng ánh "Không có gì quí hơn độc lập tự do", dưới đó là chữ ký quen thuộc của Bác.
Lên hết cầu thang là tới phòng thi hài, nơi Bác an nghỉ. Phía đầu Bác nằm, trên nền tường ốp đá trắng gắn nổi hình cờ Đảng và cờ Tổ quốc. Hòm kính có thi hài Bác bên trong đặt trên đài hoa đước ghép bằng đá đen huyền lấp lánh muôn ngàn hạt sáng. Cách bố trí lối đi từ ba phía cho phép mọi người chiêm ngưỡng Bác được lâu hơn, lối đi rộng, nên nhiều người cùng lúc đều được nhìn thấy Bác. Qua lớp kính trong suốt, Bác như vừa ngả lưng chợp mắt. Vẫn bộ quần áo ka-ki bạc mầu, dưới chân Bác vẫn là đôi dép cao su giản dị.
Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh là nơi an nghỉ vĩnh hằng của Người, là biểu tượng lòng tôn kính và biết ơn vô hạn của dân tộc Việt Nam đối với lãnh tụ của mình.
Nhà sàn Bác Hồ:
nha_san_bac_ho.jpgTrong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường hẹp trải sỏi, hai bên trồng xoài dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn bình dị, nằm giữa những vòm cây. Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau. Đó là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17-5-1958 cho tới khi Người qua đời.
Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ Chính trị. Tầng trên là hai phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật dụng đơn sơ giản dị. Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa phong lan nở quanh năm.
Nhân dân từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng lăng, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh Quảng trường Ba Đình lịch sử.
Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền nam gửi biếu Bác năm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vân Du, Xã Đoài; quýt Hương Cần, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ; song mai Đông Mỹ; hồng Tiên Điền (quê hương nhà thơ Nguyễn Du). Trong vườn còn có cả những loại cây từ nước ngoài như ngân hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ Caribê.

Hãy thưởng thức những món ngon Hà Nội vào thu

Khi tiết trời mát mẻ ngày thu ùa về cũng là lúc các món ăn dường như ngon hơn, dễ "vào" hơn. Nhiều món ngon Hà Nội vào thu bạn nhớ thưởng thức.
1. Cốm
cốm, bưởi, hồng, bánh trung thu, sấu chín, quà vặt
Cứ mỗi độ thu về, người Hà Nội lại náo nức chờ món cốm non xanh thơm dịu cả lòng. Cốm được bán trên các mẹt hàng trên khắp được phố, gói trong lớp lá mướt như dấu hiệu rõ ràng nhất báo hiệu thu về. Cốm là một trong những món ngon Hà Nội nức lòng du khách.
Cốm ngon nhất phải kể đến cốm làng Vòng. Cùng với những mẹt cốm, các biến tấu với cốm xanh cũng được người dân Hà Thành yêu thích như chuối chấm cốm, chè cốm, bánh cốm, chả cốm… dẻo thơm.
2. Bánh dẻo, bánh nướng
cốm, bưởi, hồng, bánh trung thu, sấu chín, quà vặt
cốm, bưởi, hồng, bánh trung thu, sấu chín, quà vặt
Một trong những ngày lễ quan trọng nhất của các nước châu Á mỗi dịp thu về là tết trung thu. Đây là dịp các gia đình nô nức mua bánh nướng, bánh dẻo về cúng tổ tiên và cùng chung vui bên chén trà mạn. Bánh dẻo ngày nay có nhiều biến tấu nhưng được ưa thích nhất vẫn là những loại bánh làm theo phong cách truyền thống.
3. Hồng
cốm, bưởi, hồng, bánh trung thu, sấu chín, quà vặt
Tháng 8 âm lịch là thời điểm hồng chín rộ, là loại quả đặc trưng cho bàn tiệc ngắm trăng của người Việt. Hồng vàng giòn, đã miệng, hồng đỏ hơi nhũn nhưng lại rất ngọt, mát, vừa đẹp mắt, ngon miệng, vừa bổ sung vitamin, beta-carotene.
4. Bưởi
cốm, bưởi, hồng, bánh trung thu, sấu chín, quà vặt
Cũng là một loại quả đặc trưng của mùa thu, quả bưởi chua chua, ngọt ngọt, chấm ít muối ớt khiến ai cũng thèm rỏ dãi. Quả bưởi với những tép mọng nước chứa nhiều vitamin C, dưỡng chất cho da và tóc lại có thể trang trí thành những chú chó bưởi bày bàn tiệc đẹp mắt.
5. Sấu chín
cốm, bưởi, hồng, bánh trung thu, sấu chín, quà vặt
cốm, bưởi, hồng, bánh trung thu, sấu chín, quà vặt
Những trái sấu chín vàng gọt thành vòng, chấm muối ớt hay sấu chín dầm là đặc sản thu Hà Nội khiến ai đi xa cũng nhớ nao lòng. Vì sấu chua chua, ngọt ngọt, không quá như sấu xanh, quả cũng căng tròn, mọng nước hơn, là món ăn trong ký ức mỗi người về mùa thu chốn thủ đô Hà Nội.


Nhà cổ Tấn Ký Hội An

Mỗi ngôi nhà cổ Hội An là một cá thể nổi bật trong quần thể di tích kiến trúc khu phố cổ nên rất dễ ấn tượng rằng, mỗi hạt nhân cơ bản của quần thể này là một "bảo tàng sống". Bởi, từ bao đời nay thị dân Hội An vẫn sống cuộc sống đời thường ngay trong lòng khu phố, họ gắn bó máu thịt từng công trình kiến trúc cổ với lối sống văn hóa đặc trưng của vùng đất mình.
Mỗi ngôi nhà cổ Hội An là một cá thể nổi bật trong quần thể di tích kiến trúc khu phố cổ nên rất dễ ấn tượng rằng, mỗi hạt nhân cơ bản của quần thể này là một "bảo tàng sống". Bởi, từ bao đời nay thị dân Hội An vẫn sống cuộc sống đời thường ngay trong lòng khu phố, họ gắn bó máu thịt từng công trình kiến trúc cổ với lối sống văn hóa đặc trưng của vùng đất mình.
Một điều dễ thấy là tất cả các ngôi nhà cổ ở Hội An đều hình ống và lấy bộ sườn nhà làm cơ sở chịu lực. Bộ sườn ấy được cấu thành bằng sự liên kết các vì kèo. Việc liên kết ấy được thực hiện bởi các thanh xà, đó có thể là sự liên kết bằng những thanh dầm dọc gọi là kèo, kẻ hoặc là liên kết bằng các thanh dầm ngắn xếp theo chiều ngang gọi là con rường.
Chị Tân Xuân, hậu duệ thứ 6 nhà cổ Tấn Ký - ngôi nhà số 101 phố Nguyễn Thái Học- nói: "Nhà cổ Tấn Ký gồm nhiều nếp nối với nhau, nếp thứ nhất có 6 hàng cột tạo thành 3 gian nhà, 2 gian hai bên và gian giữa. Xuất xứ của những tảng đá tròn nằm bên dưới những cây cột kia được chở về từ Thanh Hóa, chỉ có loại đá chắc khỏe này mới giúp cho những thanh cột tránh được mục ruỗng, điều đó cũng lý giải vì sao đã mấy trăm năm nay, ngôi nhà cổ này vẫn còn như nguyên trạng.
  
Những đường nét kiến trúc cổ điển được chạm khắc trên trần.(Ảnh: Đô thị)
Còn các cột hiên hình vuông này lắp ghép với các thanh gỗ đây tạo thành mảng tường mặt tiền vừa giữ chức năng che chắn mưa gió cho ngôi nhà vừa làm cho ngôi nhà kín đáo hơn. Còn mí cửa gắn 2 con mắt kia là "hình xoáy âm dương lá đề", đôi mắt của ngôi nhà cũng giống như đôi mắt của con người vậy, nó là thần thái của ngôi nhà cổ, là niềm mong ước thương mãi phát đạt và đầm ấm đời sống gia đình".
Vì nóc ngôi nhà chia làm hai phần. Vì nóc sát hiên được kiến trúc theo kiểu "cột trốn kẻ chuyền" (các cột được "trốn" bằng cách "mọc" lên từ các thanh xà ngang) gồm 3 hàng cột cộng với hàng cột hiên. Rồi kế tiếp hàng cột thứ 4 và thứ 5, kiến trúc theo kiểu "chồng rường giả thủ" (các rường cột chồng lên nhau giống như bàn tay 5 ngón) được chạm trổ tinh vi. Hàng cột thứ 5 và thứ 6 có kết cấu vì vỏ cua cong vồng lên in hệt vỏ cua vậy.
Du khách có thể nhận biết rằng, nếp thứ hai chạy dọc theo sân trời (vì rằng những ngôi nhà hình ống ở Hội An chung tường với nhau và ít có cửa sổ, để thông thoáng cũng như tuân theo triết lí Tam Tài của người phương Đông, chủ nhân những ngôi nhà này để một gian chính giữa đón lấy bầu trời gọi là sân trời) gồm hai tầng kết cấu và cũng theo lối "chồng rường giả thủ" quen thuộc nhưng nhỏ hơn, 2 cột vuông đứng trên tảng đá vuông với các tai cột chạm khắc hình con sóc, hòm thư, quả lựu, quả phật thủ, con dơi.
Có thể nói thêm rằng các hình chạm khắc này đều có ý nghĩa biểu trưng của nó như con dơi là biểu trưng về hạnh phúc; hòm thư: Học hành; quả lựu: Thật nhiều con cái. Đi hết nếp 2, nếp 3 lại xoay ngang gồm 4 hàng cột ăn thông lên mái. Mái lợp ngói âm dương rất dày nên thoáng mát về mùa hè, ấm áp vào mùa đông.
Nhà cổ Tấn Ký còn giữ nguyên được đôi câu trên bức hoành phi:
Bích xích thùy dương thiên lý vũ
Thập phân minh nguyệt nhất lầu thư
Tạm dịch:
Một dãy dương liễu chỉ dài trăm thước đón được cơn mưa từ ngàn dặm
Một mảnh trăng chỉ rộng mười phân rọi sáng cả một căn gác đầy sách
Điều đặc biệt về nghệ thuật chạm khắc là trên nét những chữ Hán này, in đúng 100 con chim như muốn như không nâng cánh lên bầu trời. Vị chủ nhân đời thứ 5 của ngôi nhà cổ này, cụ Lê Chương đã đi xa từ tháng trước. Trước khi đi xa, cụ còn để lại bức thư còn tươi nguyên màu mực nói lên mong ước những người con TP Hội An nói riêng, tỉnh Quảng Nam nói chung ít phải đi làm xa kiếm sống, ít phải có cảnh "lưu luyến, nghẹn ngào chia tay buổi đầu xuân", bức thư này ghi ngày 22/2/2008.
Đến đây bạn có thể chọn cho mình những khách sạn để nghỉ ngơi như Khách Sạn Công Đoàn Hội An
Khách sạn Du lịch Công Đoàn Hội An tạo lạc trên đường Trần Hưng Đạo. Đây là một vị trí rất lý tưởng cho du khách khi đến tham quan đô thị cổ Hội an.
Chỉ mất 5 phút đi bộ, quý khách đã có thể đến các địa điểm tham quan trong khu phố cổ, cách trạm xe buýt 10 phút, cách biển Cửa Đại 15 phút đi xe đạp và cách sân bay quốc tế Đà Nẵng 45 phút đi xe hơi.
Đến với Khách sạn du lịch công đoàn Hội an, quý khách chắc chắn sẽ hài lòng với Đô thị cổ Hội An – Di sản văn hoá thế giới – đang là điểm đến rất hấp dẫn đối với du khách trong nước, đặc biệt, khách du lịch quốc tế. Quý khách sẽ được hoà mình vào không gian tỉnh lặng với những mái ngói rêu phong cổ kính mang đậm nét kiến trúc của Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản. Quý khách sẽ sống lại cùng cư dân Hội An vào những “ Đêm rằm phố cổ Hội An “ ( tối 14 Âm lịch hàng tháng ), “ Phố không có tiếng động cơ “ ( thứ 02, 04 và thứ 07 hàng tuần ), các Lể hội truyền thống......sẽ được thưởng thức những món ăn độc đáo của Hội An và đắm mình trong làn nước biển trong xanh của bải tắm Cửa đại với những dãi cát trắng mịn màng.
Từ khu phố cổ Hội an, du khách dễ dàng đến thăm làng mộc Kim Bồng, làng chài Thanh Nam, làng rau Trà Quế, làng gốm Thanh Hà, khu du lịch sinh thái Cẩm Thanh, khu du lịch biển đảo Cù lao chàm, làng dệt Mả Châu, làng đúc đồng Phước Kiều, đặc biệt, khu đền tháp Mỷ sơn – Di sản văn hoá thế giới thứ 02 của tỉnh Quảng Nam......
Khách sạn có quy mô bốn mươi phòng thoáng mát được trang bị hiện đại gồm điện thoại gọi trực tiếp quốc tế, máy điều hòa không khí, truyền hình cáp, tủ lạnh, bồn tắm nóng lạnh, máy sấy tóc, dép đi phòng ngủ, bộ chế trà, cà phê cùng nhiều trang thiết bị khác đáp ứng yêu cầu nghỉ ngơi của du khách.

Điểm thăm quan du lịch tại Hội An

Điểm tham quan ở phố cổ Hội An:
Trong phố cổ bạn có thể đi bộ, đi xe đạp để đến các địa điểm như Hội quán Phước Kiến (1757), Hải Nam, Quảng Triệu (1885), Triều Châu (1887), Chùa Cầu (Cầu Nhật Bản), Chùa Ông (miếu Quan Công), Làng nghề thu nhỏ, Bảo tàng văn hoá dân gian, Bảo tàng lịch sử văn hoá Hội An, Bảo tàng gốm sứ mậu dịch Hội An, Nhà cổ Quân Thắng, Nhà cổ Tấn Ký, Nhà thờ tộc họ Trần, nhà cổ Phùng Hưng, Bảo tàng văn hoá Sa Huỳnh, khu vườn tượng – Nguyễn Phúc Chu (An Hội), khu du lịch làng quê Việt Nam (Cẩm Nam – mất vé vào cửa, đắt), Nhà biểu diễn nghệ thuật cổ truyền, xưởng sản xuất thủ công mỹ nghệ (ca nhạc cổ truyền 10h15-10h35, 15h15-15h35 trừ thứ hai)…
Chùa Ông
Chùa Ông, ở số 24 đường Trần Phú còn được gọi là Quan Công miếu, tên chữ là Trừng Hán Cung được người Minh Hương định cư tại Hội An và người Việt xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ 17, thờ vị tướng tài ba thời Tam Quốc là Quan Vân Trường (Quan Vũ), nhằm kính ngưỡng, ca tụng, tán dương lòng nghĩa khí, tiết trung liệt của Ông.
Giếng Bá Lễ
Giếng Bá Lễ nằm trong kiệt cùng tên nối đường Phan Châu Trinh với đường Trần Hưng Đạo. Tương truyền giếng do người Chăm xây dựng và được người Việt kế thừa sử dụng. Vào đầu thế kỷ XX, giếng này do bà Bá Lễ tu bổ với số tiền là 100 đồng Đông Dương nên có tên gọi như hiện nay.
Giếng có kiến trúc hình vuông với cạnh giếng hướng tây bắc – đông nam. Giếng có chu vi 5,5m, sâu 6,15m, thành miệng cao 0,60m, thành giếng được xây hoàn toàn bằng gạch vồ cỡ lớn, dưới cùng là khung gỗ lim rộng bản. Nước giếng luôn dồi dào, ngọt mát và trong suốt quanh năm đã phản ánh trình độ cao về sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật kiến trúc với thuật phong thủy của người Hội An xưa.
Chùa Cầu
Chùa Cầu còn có tên gọi là Cầu Nhật Bản và Lai Viễn Kiều, tương truyền do người Nhật xây vào đầu thế kỷ XVII và đã qua ít nhất 6 lần trùng tu vào các năm 1653, 1763, 1817, 1865, 1915, 1917.
Cầu có mái che khá độc đáo, ở giữa là lối qua lại kiểu cầu vồng, hai bên có hành lang hẹp để làm nơi bày hàng, nghỉ mát với 7 gian bằng gỗ bắc ngang qua một lạch nước nhỏ cùng các kết cấu, họa tiết trang trí thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa các phong cách kiến trúc Việt, Hoa, Nhật, và cả phương Tây.
Cùng với chức năng giao thông, cầu còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng có liên quan đến truyền thuyết về việc trấn yểm thủy quái, thủy tai giữ gìn sự yên bình cho phố xá và cộng đồng cư dân Hội An.
Hội quán Phúc Kiến
Tương truyền, tiền thân của Hội quán là một gian miếu nhỏ thờ pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu (bà chúa phù hộ cho thương nhân vượt sóng gió đại dương) vớt được tại bờ biển Hội An vào năm 1697. Qua nhiều lần trùng tu, với sự đóng góp chủ yếu của Hoa Kiều bang Phúc Kiến, hội quán càng trở nên rực rỡ, khang trang góp phần tô điểm diện mạo kiến trúc đô thị cổ Hội An.
Hội quán Triều Châu
Hội quán được Hoa Kiều bang Triều Châu xây dựng vào năm 1845 để thờ Phục Ba tướng quân Mã Viện – vị thần giỏi chế ngự sóng gió giúp cho việc đi lại buôn bán trên biển được thuận buồm xuôi gió, đắc lợi. Hội quán có giá trị đặc biệt về kết cấu kiến trúc với bộ khung gỗ trạm gỗ chạm trổ tinh xảo, cùng những hoạ tiết, hương án trang trí bằng gỗ và những tác phẩm đắp nổi bằng sành sứ tuyệt đẹp.
Hội quán Quảng Đông
Hội quán được Hoa Kiều bang Quảng Đông xây dựng vào năm 1885, thoạt đầu để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và Đức Khổng Tử, sau năm 1911 chuyển sang thờ Quan Công và Tiền Hiền của bang.
Sự sử dụng hợp lý các chất liệu gỗ, đá trong kết cấu chịu lực, chi tiết trang trí đã đem lại cho Hội quán vẻ đẹp đường bệ, riêng có. Hàng năm vào ngày Nguyên Tiêu, vía Quan Công (24 tháng 6 ÂL) tại đây diễn ra lễ hội rất linh đình thu hút nhiều người tham gia
Nhà thờ tộc Trần
Do một vị quan họ Trần (một dòng họ lớn từ Trung Hoa di cư đến Hội An vào những năm 1700) xây dựng năm 1802 theo những nguyên tắc phong thuỷ truyền thống của người Trung Hoa và người Việt. Tạo lạc trên một khu đất rộng khoảng 1500 m2, có nhiều hạng mục: nhà thờ tự ông bà và trưng bày các di vật liên quan đến dòng họ, nhà ở … Đây là nơi tụ họp con cháu vào dịp lễ bái, tri ân tổ tiên và giải quyết những vấn đề trong dòng tộc.
Bảo tàng lịch sử, văn hóa
Được thành lập vào năm 1989, bảo tàng trưng bày 212 hiện vật gốc và tư liệu có giá trị bằng gốm, sứ, đồng sắt, giấy, gỗ…phản ánh các giai đoạn phát triển của đô thị- thương cảng Hội An từ thời kỳ văn hoá Sa Huỳnh (từ thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên) đến thời kỳ văn hoá Chăm (từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 15) và văn hoá Đại Việt, Đại Nam (từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19).
Bảo tàng cung cấp những thông tin về cư dân cổ thuộc hệ văn hóa Sa huỳnh ở Hội An – chủ nhân của cảng thị Hội An sơ khai từng có quan hệ giao lưu với Trung Quốc, Ấn Ðộ, các nước Nam Á, Ðông Á.
Nhà cổ Tấn Ký
Ðược xây dựng cách đây gần 200 năm, nhà Tấn Ký có kiểu kiến trúc đặc trưng của loại nhà phố Hội An với nội thất chia làm nhiều gian, mỗi gian có chức năng riêng.
Mặt tiền nhà thông là nơi để mở cửa hiệu buôn bán, mặt sau thông với bến sông để làm nơi xuất nhập hàng hóa.
Nhà được xây dựng bởi những loại vật liệu truyền thống và được tạo tác bởi những thợ mộc, nề địa phương nên vừa mang dáng nét riêng, nhỏ nhắn, thanh thoát, ấm cúng, vừa thể hiện sự giao lưu với các phong cách kiến trúc trong khu vực.
Nội thất bài trí các vật dụng thể hiện sự sung túc của các thế hệ chủ nhân.
Ngày 17 tháng 2 năm 1990, nhà Tấn Ký đã được cấp bằng Di tích Lịch sử – Văn hóa Quốc gia.
Nhà cổ Quân Thắng (Số 77 – Trần Phú)
Đây là một trong những ngôi nhà cổ nhất, đẹp nhất ở Hội An được chủ hiệu buôn người Hoa hiệu là Quân Thắng xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVII. Ngôi nhà là một điển hình của loại nhà trệt thông hai mặt đường, chứa đựng nhiều đặc trưng kiến trúc của Hội An như các vì kèo chồng rường giả thủ, cột trốn kẻ chuyền và vì vỏ cua, không những làm tăng giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật cho ngôi nhà mà còn tạo được không gian thoáng đãng, mát mẻ. Các đồ án trang trí trên tường, trên vách cùng với non bộ, cuốn thư,… đã tạo nơi đây thành một bức tranh tuyệt tác. Ngoài ra, với những di vật, cổ vật, lối sống, nếp sống truyền thống cũng đã góp phần quan trọng trong việc minh chứng cho sự thịnh vượng của thương cảng Hội An xưa nói chung, các gia tộc người Hoa ở Hội An nói riêng.
Nhà thờ tộc Trần (Số 21 – Lê Lợi)
Nhà thờ tộc Trần được xây dựng vào đầu thế kỷ thứ XIX, là một kiến trúc tiêu biểu cho loại hình nhà thờ tộc ở Hội An, tuy nằm trong khu vực phố nhưng lại được xây dựng theo lối kiến trúc nhà vườn. Nhà thờ có quy mô không lớn với không gian nội thất kiểu 3 gian, 2 nếp nhà. Các vì kèo “trính chồng – trụ đội”, vì “vỏ cua” và trên các đầu kèo đều được chạm trổ sắc sảo. Đề tài trang trí rất sinh động, với những đường nét hoa văn giàu tính nghệ thuật. Mỗi bộ vì kèo, bàn ghế, hoành phi, liễn đối, khám thờ… đều là những tác phẩm chạm khắc sắc sảo. Ngoài vẻ đẹp về kiến trúc và những hiện vật như gia phả, hoành phi, câu đối, khám thờ, đồ thờ, cổ vật… nơi đây còn bảo tồn lối sống, nếp sống truyền thống, góp phần minh chứng cho quá trình giao lưu về văn hóa, kinh tế giữa Việt Nam và Trung Hoa trong những thế kỷ trước đây.
Nhà cổ Đức An
Nhà cổ Đức An – một ngôi nhà đã 180 năm tuổi mà ở đó những nét cổ kính, trầm mặc vẫn đang hiện hữu trên từng đồ vật rất đỗi giản dị của gia đình, người ta cảm nhận rõ hơn cái sự trôi chậm của thời gian. Từ những đồ vật rất đỗi giản dị trong ngôi nhà như chiếc đèn dầu, chiếc giá để bút… đến những bộ bàn ghế, bộ tranh tứ bình cũng đã ngót nghét hàng trăm năm.

Đến Hội An ăn cao lầu, cơm gà, chè bắp 


Đến Hội An không thể không ăn cao lầu, tuy nhiên nếu bỏ qua cơm gà thì sẽ là cả một sự hối tiếc, và trong lúc mải ngắm những ngôi nhà cổ, bạn cũng đừng quên rẽ vào quán nhỏ để ăn một bát chè bắp.


Hội An là điểm đến đầy thú vị của du khách trong và ngoài nước. Những ngôi nhà cổ, những quán cà phê nhỏ xinh, những gánh hàng hoa rực rỡ, những đêm rằm thả đèn hoa đăng lãng mạn… đã mê hoặc lòng người.

Và dĩ nhiên, đi dọc theo những con phố tĩnh lặng của Hội An, khi bụng đã réo ầm ĩ thì bạn không thể tìm cho mình một món ăn ngon. Xin điểm những món ăn ngon khó bỏ qua và rất dễ tìm thấy khi đến phố Hội.

Cơm gà Hội An

Sự lựa chọn đầu tiên của bạn, chắc chắn sẽ là cơm gà Hội An. Bởi trước khi đến đây, bất kỳ ai cũng “google” những món ngon của xứ sở này, và cơm gà là đặc sản. Nhưng Hội An không có nhiều quán cơm gà, phải đi vòng vèo vài con phố, bạn mới “tia” thấy lác đác những tấm biển gỗ, và đặc sắc nhất là quán cơm gà Bà Buội, Cô Nga, thường bắt đầu từ 11h trưa hoặc tối.

Đó là một đĩa cơm nhỏ, với gà xé, gà trộn và rau sống. Cơm trắng nấu riêng, được trộn trước với một ít mỡ gà, béo ngậy và vàng ươm. Thịt gà ta được xé nhỏ, lọc hết xương, trộn và bóp đều với các loại gia vị, chanh, ớt, tỏi, rau sống.



Cơm gà Hội An

Trong tiết trời ấm áp của Hội An, chỉ vì mải chơi quá nên lúc nhìn đĩa cơm gà vàng ươm, dậy mùi thì chỉ sau 5 phút bạn đã “xử” hết veo một đĩa cơm gà. Nếu muốn bạn có thể gọi thêm một đĩa, nhưng ăn theo kiểu “thòm thèm” thì mới ngon và còn chỗ để tiếp tục thưởng thức những món khác khi dạo phố. Giá cơm gà ở Hội An rất phải chăng, từ 25.000-40.000 tùy vào độ lớn nhỏ.

Tò mò với cao lầu

Với những “tín đồ” của phim truyền hình Việt Nam thì sau những thước phim Cho một tình yêu, cao lầu sẽ là món ăn khiến bạn tò mò nhất khi đến Hội An. Đây cũng là món ăn gắn liền với thương hiệu của phố Hội từ xưa đến nay.

So với cơm gà thì cao lầu được bán phổ biến hơn tại phố cổ. Trong những nhà hàng sang trọng, những quán ăn nhỏ hay đơn giản là một gánh hàng trong đêm, bạn đều có thể gọi món cao lầu. Mỗi bát cao lầu có giá từ 10.000-20.000 đồng, tùy vào địa điểm mà bạn lựa chọn.

Cao lầu được bán rất nhiều tại Hội An.


Cao lầu của người Hội An được chế biến rất công phu.

Nhiều người không quen ăn thường cho rằng cao lầu có vị giống mì Quảng, tuy nhiên, chế biến cao lầu là cả một quá trình chăm chút và tinh tế hơn rất nhiều. Cũng từ đó mà vị của món ăn này có sức hút đối với không chỉ người trong nước mà còn cả du khách quốc tế.

Sợi mì làm nên cao lầu được làm từ bột gạo sống và chín, trải qua nhiều công đoạn sẽ cho ra sợi mì giòn và dai hơn mì Quảng. Ngoài giá, rau sống, tóp mỡ giòn tan, thì điểm nhấn chính của một bát cao lầu là thịt lợn xá xíu. Và nước thịt xá xíu này cũng chính là nước cho vào bát cao lầu, rất đậm đà và dậy mùi thơm.

Bánh rán hàng rong

Trên phố, một vài chiếc xe bán các loại bánh rán cũng đẩy đưa rất mời gọi. Mỗi chiếc bánh này có giá từ 4.000-5.000 đồng/chiếc, được bày bán trên chiếc xe nhỏ rất sạch sẽ. Muốn ăn chiếc nào, bạn chỉ vào chiếc đó và chủ xe cho bánh vào chảo mở nóng ran, một lúc sau bạn đã có trên tay chiếc bánh này.

Bánh rán hàng rong.
Tuy nhiên, bánh rán ở Hội An không đa dạng và không có mùi vị đặc trưng riêng, đơn giản đó là những chiếc bánh làm bằng bột mì, nhân đậu, thịt được rán giòn theo vị mặn hoặc ngon.
Tào phớ
Sau khi bước chân qua cầu Nhật Bản, ghé thăm ngôi nhà cổ Phùng Hưng với muôn vàn chiếc đèn lồng sặc sỡ, bạn bước chân ra hít thở khí trời trong lành. Và bên kia đường, bạn nhìn thấy một gánh tào phớ nóng hổi và thơm lừng. Thế là, món ăn này đến với bạn, vừa ngon, vừa vui, vừa gợi nhớ những kỷ niệm thời ấu thơ với những gánh hàng rong: “Ai tào phớ, tào phớ đê”….
Tào phớ ấm lòng
Chè bắp phố Hội
Buổi tối, Hội An lung linh với những quán cà phê ngập tràn sắc màu của đèn lồng. Bạn cũng có thể chọn một quán cà phê bên dòng sông Hoài, nằm giữa trung tâm phố để vừa ngắm cảnh vừa thưởng thức món ngon. Đồ uống của Hội An cũng không có gì đặc biệt, tuy nhiên, trong lĩnh vực chè thì Hội An rất hãnh diện với chè bắp, chè sen.
Chè sen đặt trong một chiếc ly nhỏ, những hạt sen tươi, trắng muốt, thơm và mát, tương tự như bất kỳ một ly chè sen ở nơi khác, nhưng giá thì rẻ hơn rất nhiều, chỉ 5.000-6.000 đồng/ly.
Chè sen

Chè bắp và bánh tráng đập.

Với chè bắp thì đó là sự khác biệt. Bắp ở đây không hề để nguyên cả hạt như những hạt bắp chúng ta vẫn thường ăn chè ở Hà Nội, TP.HCM hay nhiều nơi khác. Hạt bắp được bào thành những lát rất mỏng, nấu nhừ ở mức độ vừa phải để khi cho ra bát thì đa số vẫn giữ nguyên lát li ti đó.

Vị chè bắp của Hội An cũng thơm, cũng dẻo, nhưng ăn không cần phải cho thêm đá mà vẫn rất mát dịu. Mỗi bát chè bắp nhỏ xinh đó, giá chỉ khoảng 4.000-5.000 đồng.

Bánh tráng đập

Nếu chưa từng một lần ăn bánh tráng đập, đặc sản của người Quảng Nam - Quảng Ngãi, chỉ với 5.000-10.000 đồng, bạn sẽ có ngay món ăn này tại bất kỳ con phố nào ở Hội An. Nghe tên gọi bánh đập thì nhiều người tưởng phải “tung chưởng” ghê lắm, nhưng bánh đập đơn giản là bánh tráng kẹp bánh ướt, đập nhẹ rồi chấm với nước mắm ngọt, cay.

Bánh tráng đập cho vào miệng, có sự giòn tan của bánh tráng, mềm và mát của bánh ướt, chút đậm đà, cay cay sau khi chấm. Ngon một cách dịu nhẹ như đang ở một buổi chiều hoặc đêm mùa hè mát mẻ. Chỉ đơn giản là thế thôi, nhưng cũng đủ để bạn cảm thấy thư thái hơn trong một buổi dạo quanh phố cổ, với những món ăn nhẹ nhàng mà khó quên.

 


Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Núi Nứa


Quần thể núi Nứa nằm ở phía đông của xã đảo Long Sơn, thành phố Vũng Tàu. Tên gọi là núi Nứa do trước kia trên khắp đảo có nhiều cây nứa (một họ với tre) mọc thành rừng.
Núi Nứa có chiều dài hơn 6km, chiều ngang có nơi rộng nhất hơn 2km, quần thể núi Nứa là đoạn cuối cùng của dãy núi Phước Hòa nhô ra biển. Nơi đây có nhiều tảng đá lớn với nhiều hình dáng khác nhau, cùng nhiều cột đá chọc thẳng lên trời.
Quần thể núi Nứa có ba đỉnh, cao nhất là đỉnh Bà Trao (183m), tiếp đến là đỉnh Núi Rồng (120m), về phía nam có đỉnh Hố Vong (hơn 100m). Trên đỉnh Bà Trao có một cột đá cao 5m gọi là Hòn Một. Trong khu vực này còn có hai khối đá dài bắc ngang tựa như con tàu biển, nên được gọi là Hòn Tàu. Nơi này là điểm dã ngoại khá lý thú dành cho các bạn trẻ thích vui sống cùng thiên nhiên, biển trời núi non.
Tuy độ cao khiêm tốn nhưng núi Nứa vẫn gây ấn tượng với du khách bởi khoảnh đường lên núi đầy vất vả khó khăn và nhiều thử thách.
Đường dẫn lên đỉnh núi dốc và khó đi vì những hòn đá luôn chờ sẵn dưới gót giày của bạn. Do đá ở núi Nứa nhỏ, nhiều góc cạnh nên sau khi chinh phục được đỉnh: bạn sẽ thấy "phê" khắp bàn chân.
Hoàn thành sứ mệnh chinh phục núi Nứa xong, bạn sẽ thấy dù núi thấp nhưng đây vẫn là một vấn đề lớn về sức chịu đựng của đôi bàn chân đấy.
Trên đỉnh núi Nứa có nhiều tảng đá rất to cao khoảng 4-5m, người ta gọi là hòn Một. Có hai khối đá dài bắc ngang trông giống như tàu biển, người dân gọi là hòn Tàu (hay ông Một, ông Tàu). Khách hành hương xem hai kỳ quan đá này là vị thần canh giữ đỉnh Bà Trao nên chốn này có nhang, quả thờ cúng.
Đứng trên đỉnh núi Nứa phóng tầm mắt ra xa, các bạn có thể thấy dãy núi Lớn ngoài Vũng Tàu, núi Dinh cũng thấy rất rõ. Toàn cảnh đảo Long Sơn nằm bình yên bên dưới với những mái ngói đỏ tươi còn biển xanh Vũng Tàu ngoài xa tận chân trời. Một khung cảnh bình yên, thanh thoát khi đón làn gió trên đỉnh núi.
Vào dịp lễ hội, du khách tới tham quan Hòn Một sẽ được tham gia làm lễ thỉnh cầu Thiên Địa và có thể phóng tầm mắt bao quát cả một vùng biển trời thoáng rộng. Dưới chân núi Nứa về phía tây có hồ chứa nước ngọt Mang Cá trồng nhiều hoa sen tỏa hương thơm ngát, còn về phía đông là di tích nhà Lớn - đền ông Trần.

Bạn có thể chọn khách sạn Phố Hiến 2 là chỗ nghỉ chân cho bạn khi du lịch Vũng Tàu.

Khách sạn chúng tôi mong muốn sẽ đồng hành dài lâu cùng quý du khách gần xa. Góp phần nhỏ cho thành công của kì nghỉ của quý khách là niềm vui to lớn của khách sạn chúng tôi.
Khách sạn Phố Hiến được lựa chọn như một sự yên tâm, và tin tưởng cho suốt  kì nghỉ dưỡng của du khách.
Để không phụ lòng tin tưởng của quý khách, khách sạn của chúng tôi sẽ không ngừng hoàn thiện và nâng cao uy tín, chất lượng phục vụ cũng như không ngừng nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất của khách sạn để đáp lại sự tin yêu của khách sạn trong thời gian qua. Khách sạn chúng tôi mong muốn sẽ đồng hành dài lâu cùng quý du khách gần xa. Góp phần nhỏ cho thành công của kì nghỉ của quý khách là niềm vui to lớn của khách sạn chúng tôi.


Các điểm tham quan tại thành phố Vũng Tàu

1. BẠCH DINH
Bạch Dinh dọc theo bãi trước về phía Núi Lớn, chúng ta luôn trông thấy một dinh thự màu trắng, mái ngói đỏ sừng sững trên núi nổi bật trên nền xanh tươi của cây cỏ. Đấy chính là Bạch Dinh.bach-dinh1Bạch Dinh được người Pháp xây dựng năm 1898 đến năm 1916 dùng làm nơi nghỉ mát cho toàn quyền Pháp Paul Doumer và được gọi là Villa Blanche theo tên cô con gái yêu của ông ta, dân địa phương quen gọi Bạch dinh là biệt thự trắng.
Sau đó nhiều đời toàn quyền đông dương (người Pháp) cũng dùng Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi giải trí nên gọi là Villa Dugouverneur (Dinh toàn quyền).
Sau này Ngô đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu cũng lấy Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi giải trí nên Bạch Dinh còn có tên là Dinh ông Thượng.
Phía trước Bạch Dinh hướng ra biển. Tại đây có thể nhìn bao quát cảnh bãi trước, núi nhỏ, núi lớn nhìn thẳng xuống ta sẽ thấy hòn Hải ngưu, đó là mũi đá nhỏ nhô ra biển có hình dáng một con trâu nằm dưới nước bây giờ Bạch dinh được là dùng nhà bảo tàng trưng bày cổ vật tìm được ở Hòn Cau - Côn Đảo.
2. TƯỢNG CHÚA KITO
Theo đường vòng núi nhỏ (đường Hạ Long) từ bãi trước qua bãi Dứa đến mũi Ninh Phong.
Tượng chúa được xây dựng từ năm 1972 những công trình bị bỏ dở, do yêu cầu cuả đồng bào giáo dân ngày 28 tháng 1 năm 1992 UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định xây dựng tiếp công trình tượng chúa trên Núi Nhỏ. Sau hai năm xây dựng ngày 2 tháng 2 năm 1994 công trình đã được hoàn tất. Tượng chúa được xây dựng trên núi cao 136 mét và cao so với mực nước biển 176 mét. Tượng đài cao 31 mét, hai tay dang rộng 18,4 mét được đặt trên một ngôi nhà hình vuông có trạm trổ chúa và 13 tông đồ trên mặt tượng.

Phía trong bụng tượng có thể chứa được hàng trăm người đi trên 133 bậc thang được làm bằng đá mài. Từ hai tay của tượng ta có thể nhìn bao quát được toàn bộ thành phố Vũng Tàu.
Từ KS Valley Mountain đến tượng chúa Kito cách 6,4km. Rẽ vào đường Hải Đăng để đến tượng chúa là gần nhất.
3. NGỌN HẢI ĐĂNGhai-dang
Hải Đăng Vũng Tàu được xây dựng từ năm 1907, lúc đầu đặt ở mỏm thấp của núi nhỏ, thắp bằng dầu năm 1911 được xây dựng thành tháp tròn có đường kính 3 mét cao 18 mét được làm trên đỉnh cao nhất của núi nhỏ có độ cao 170 mét.
Hải đăng Vũng Tàu dọi xa đến 35 hải lưu có kính viễn vọng để theo dõi tàu và hướng dẫn thuyền trên biển.
Từ KS Valley Mountain đến trạm hải đăng cách nhau 6.4km, đi vừa hết đường Quang Trung để ý sẽ thấy con dốc lên Hải Đăng.
4. NÚI LỚN
Vũng Tàu có hai hòn núi là Núi Lớn và Núi Nhỏ. Núi Lớn có diện tích khoảng 400 ha, có ba đỉnh lớn là Vũng Mây, Núi Lớn và Hòn Sụp.
Theo đường Núi Lớn (đường Trần Phú ) quanh sườn núi từ Bến Đình sẽ đến chùa Thích Ca Phật Đài, Bãi Dâu, đến Bãi Trước dài 10 km, đường dốc quanh co, trên là núi, dưới là biển, phong cảnh hữu tình, hùng vĩ lên thơ. Có nhiều thắng cảng dọc đường đi như tượng Đức mẹ, tượng Phật Bà Quan Âm, Bạch Dinh ...

5. NÚI NHỎ
Núi Nhỏ có diện tích khoảng 120 ha, đỉnh núi cao 170 m. Về truyền thuyết, Núi Nhỏ mang tên Tao Phùng kể về câu chuyện giữa người con gái vua Thuỷ Tề và một chàng trai làng chài.
Theo đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) chạy từ bãi trước qua Bãi Ô Quắn, Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong và ra Bãi Sau dài khoảng 6 km. Đường mới, rộng và đẹp. Hai bên đường có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như Bãi Trước, chùa Niết Bàn Tịnh Xá, tượng Chúa Kitô, Hòn Bà .
6. HÒN BÀ
hon-baHòn Bà là một hòn đảo nhỏ, dưới chân đảo sóng biển đánh tung bọt trắng xoá rất lên thơ, nằm phía ngoài biển theo đường hạ Long vòng Núi nhỏ, Từ Bãi Trước, qua Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong. Hòn Bà nằm cách chân Núi Nhỏ khoảng 200 m. Năm 1881 ông Hồ Quang Minh gốc miền Trung đã bỏ kinh phí ra xây dựng một ngôi miếu nhỏ trên đảo gọi là Miếu Bà.
Miếu Bà hiện nay có chiều cao nổi trên mặt đất là 4 m. Trong là điện thờ các vị thần linh. Bên dưới có một tầng hầm dài 6m rộng 3m, trước kia tếng là nơi hội họp bí mật của đồng bào yêu nước chống đế quốc.

Khi thủy triều xuống thấp, có thể men theo một lối đá chập trùng để ra đảo. Ngày rằm hay mồng một, bà con thường ra đảo rất đông để thắp hương cầu may tại ngôi miếu nhỏ này.
7. LĂNG CÁ ÔNG
lang-ca-ong
Đối với ngư dân khắp vùng biển phía Nam thì Cá Ông được xem là loài linh thiêng thường hay cứu giúp những con thuyền gặp sóng to gió lớn. Vì vậy mỗi khi có xác Cá Ông trôi dạt vào bờ, thì người đầu tiên trông thấy được coi là con trưởng nam, phải có bổn phận để tang và lo toan việc chôn cất xác cá thật chu đáo. Khoảng 40 năm sau lại có một xác Cá Ông lớn trôi vào Bãi Sau, dân làng được tin kéo tới đem xác cá lên bờ rồi chôn cất tử tế. Đến năm 1911, ngư dân địa phương chung nhau góp tiền xây một Lăng tại khu vực lăng hiện nay, rồi đào xương cá Ông này và dời xương cá Ông trước đó về thờ trong lăng. Từ đó Lăng được nhiều lần tu bổ và đến tháng 4 năm 1969 được sửa chữa có hình dáng như hiện nay. Giữa lăng là bàn thờ được trạm trổ công phu các hình long, ly, quy, phụng giao đầu, cá hoá Rồng giỡn sóng. Phía sau bàn thờ là ba tủ kính lớn đựng xương cá. Tủ bên trái đựng xương cá Ông nhỏ vớt được trong những lần sau. Ngày vua Ông (ngày Giỗ) được định vào ngày 16 tháng 8 âm lịch hàng năm.Vào ngày nay, ngư dânVũng Tàu kéo về làm lễ cúng bái rất linh đình, trọng thể

Khám phá ẩm thực biển Vũng Tàu

Vũng Tàu có rất nhiều món ăn truyền thống ngon, lạ. Nhưng bạn phải biết cách chọn quán, tìm đúng địa chỉ để tránh bị "chặt chém", bực mình.

Vũng Tàu là vùng đất vừa có núi rừng vừa có biển, nên đặc sản ở đây rất đa dạng. Thuỷ sản có nhiều loại đặc trưng; đặc sản địa phương cũng nhiều món như bánh canh Long Hương, bún nóng Hoà Long, bánh hỏi An Nhất; hay các món dân dã, bình dân như bánh khọt, bánh bèo, chạo tôm, thịt nướng.
Đêm đến, thành phố lúc nào cũng luôn nhộn nhịp bởi các khu ẩm thực: khu ăn đêm Đồ Chiểu với đầy đủ các món ăn như phở, cháo, hủ tiếu, bún, bánh cuốn, mì, cơm…
Bánh khọt
So với nhiều món ăn cầu kỳ khác, bánh khọt là món ăn dân dã nhưng mang một hương vị rất riêng của Vũng Tàu. Màu trắng của bột gạo quyện với vị béo ngậy của mỡ hành và độ ngọt của tôm tươi, vị thơm của tôm khô chà nhuyễn trong món bánh khọt.

Địa chỉ tham khảo: Khu đường Nguyễn Trường Tộ được xem là nơi hội tụ của đặc sản này, quán Gốc vú sữa, Cô Ba đường Hoàng Hoa Thám, một số quán khác ở ngã 4 Hoàng Hoa Thám và Nguyễn Trường Tộ như: Cây hoa sữa, Cây sung, 16A...
Bánh hỏi
Là đặc sản của vùng đất An Nhứt,bánh hỏi được làm bằng một thứ gạo thơm và bí quyết là cách pha chế bột sao cho bánh dẻo, dai. Miếng bánh hỏi trắng thơm mùi gạo mới càng nhai càng thấy ngọt, bánh hỏi cuốn với rau sống, thịt nướng, chả giò chấm với nước mắm, kèm ngó sen chua ngọt, hoặc ăn với thịt bò xiên bằng que nướng trên bếp than hồng, chấm mắm nêm cũng rất ngon.
Địa chỉ tham khảo: Quán An Nhất, Quốc lộ 55, huyện Long Điền, thị xã Bà Rịa , 19 Trương Công Định, TP Vũng Tàu.
Bánh canh – Long Hương
Tại thị xã Bà Rịa hiện có 2 tiêm bánh canh ngon thi là quán Thúy ở ngã ba Long Hương và quán Bánh Canh Long Hương tại cổng chào thị xã Bà Rịa. Bánh canh ăn ngon mà nấu đơn giản, chỉ cần ninh chân giò và xương ống cho ngọt nước lèo rồi nêm nếm gia vị cho vừa miệng. Nước lèo trong veo nhưng có vị ngọt đậm đà của xương và thịt.
Sợi bánh được làm bằng bột gạo pha bột lọc để có độ dài và bột màu trắng trong. Bánh canh ăn kèm với gia sống , rau cần và các loại rau thơm khác. Giá đậu xanh chọn loại lùn, thân mập vừa giòn, lại có vị ngọt mát. Bánh canh có 3 món cho thực khách lựa chọn: giò ,nạc và que (que là xương ống có nhiều nạc).
Địa chỉ tham khảo: Quán bánh Canh Thúy - nằm ngay cổng chào thị xã Bà Rịa, phía tay trái nếu đi từ hướng Sài Gòn đến Vũng Tàu. Bánh Canh Long Hương tại cổng chào thị xã Bà Rịa.
Bánh xèo - Long Hải (thị trấn Long Hải, huyện Long Điền)
Bánh xèo ở vùng đất Long Hải, Vũng Tàu nổi tiếng không chỉ vì có những bí quyết nghề nghiệp và những ngón độc chiêu như: nguồn thực phẩm tươi nguyên mua của dân chài đánh bắt trong ngày mang về chưa ướp đá.
Kỹ thuật đổ bánh giòn tan, bánh có màu vàng tươi, thơm ngon; nước chấm được pha chế công phu, vị chua chua ngọt ngọt của dưa cải, vị đậm đà của nước mắm ngon loại đặc biệt… khiến người ăn có thể cảm nhận được hương vị đặc trưng không lẫn vào đâu được.
Cháo chim bồ câu
Bồ câu ra ràng hầm cháo đậu xanh với hạt sen đã bổ, lại thêm vị mát của đậu xanh, mùi thơm của hạt sen khiến cho món ăn rất hấp dẫn. Đến đây, bạn có thể chọn số lượng bồ câu với 3 món chính là nấu cháo, quay và rô-ti.

Địa chỉ: Quán nhỏ nằm khuất tại góc đường Đồ Chiểu, cách chợ cũ TP Vũng Tàu khoảng 300m.
Tiết canh tôm hùm
Có tất cả bảy loại tôm hùm, nhưng tôm hùm dùng làm tiết canh ngon nhất phải là loại tôm rồng. So với các loại tôm hùm khác, lưng tôm rồng có sọc đen, đốt chân màu xanh lục, đầu tôm lấp lánh sắc cầu vồng… Tiết canh tôm tuy rất ít nhưng ăn là lạ, phần thịt tôm mềm lẫn với tiết tôm sừng sựt như rau câu, mằn mặn, ngòn ngọt.

Tiết canh tôm cũng được ăn chung với bánh tráng và dùng làm mồi uống rượu như các loại tiết canh khác, nhưng phần rau thì ngoài ngò gai, không thể thiếu rau diếp cá và có thể ăn chung với khế chua, chuối chát.

Địa chỉ tham khảo: Nhà hàng Hải Phương, đường 30 - 4, phường 10, TP. Vũng Tàu.
Bún súng Vũng Tàu
Bún súng Vũng Tàu nhiều người hay nhầm với bún nước lèo của người Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau…, nhưng món ăn này là sự kết hợp mùi vị của ba nền văn hóa Khmer, Hoa và Việt. Bún được chan nước lèo nấu từ hải sản như cá, tôm, mực và ăn kèm rau súng.
Hủ tíu mì sườn Tùng Hưng
Tô hủ tíu mì với nước lèo trong vắt đậm đà , miếng sườn trắng mềm được nấu theo công thức riêng , bạn sẽ hiểu vì sao lại hình thành nên 1 thương hiệu hủ tíu mì đặc trưng đến như vậy.

Là thương hiệu nổi tiếng từ năm 1968 tại Vũng Tàu. Hủ tíu mì sườn Tùng Hưng khác với hủ tiếu ở những nơi khác bởi cách chế biến đặc biệt cùng bí quyết gia truyền từ lâu đã tạo điểm nhấn trong lòng thực khách.
Ngoài hủ tíu mì sườn, đến quán, bạn còn có thể gọi hủ tiếu hoành thánh xá xíu, hoành thánh sườn, hủ tiếu xá xíu, hủ tiếu mì heo viên tôm, mì thập cẩm, hoành thánh thập cẩm, hủ tiếu mì tôm, hủ tiếu mì Tùng Hưng...cùng nhiều loại nước ép trái cây và tráng miệng đặc sắc. Địa chỉ : đường Lý Tự Trọng – P3 – Tp Vũng Tàu.
Hải Sản
Là thành phố biển, thế mạnh ẩm thực của Vũng Tàu chính là hải sản. Món ăn hải sản ở Vũng Tàu phong phú về chủng loại, đa dạng về giá cả, từ bình dân đến cao cấp. Ở những hàng quán bán hải sản bên hè phố, chỉ cần vài chục ngàn đồng là bạn có thể khoan khoái ngồi thưởng thức các món: ốc len xào dừa, nghêu hấp, chem chem nướng mỡ hành…
Lẩu cá đuối
Ăn lẩu cá đuối ở xứ biển, vào những ngày nhiều gió hay trời thoáng lành lạnh quả là không đâu bằng. Nồi lẩu - nước dùng nóng, vị chua của măng chua, vị ngọt và hơi dai của cá khiến cho hương vị món lẩu bình dân này trở thành đặc sản.

 

 

 


Làng Cổ Túy Loan

Khách đến Đà Nẵng, ra Bắc vào Nam hãy ghé lại Tuý Loan, dạo một vòng quanh làng và chợ họp ven sông, thưởng thức hươn vị mì Quảng và bánh tráng, chiêm ngưỡng đình làng và không gian làng cổ, có dịp dự hội làng quý khách sẽ rất thú vị và có ấn tượng khó quên về một làng cổ, một đình làng với cảnh sắc thiên nhiên mộc mạc, con người ân tình và nồng hậu, đậm đà bản sắc văn hóa làng quê Việt Nam rất đáng tự hào và trân trọng.

Làng Túy Loan nằm về hướng tây nam của thành phố Đà Nẵng. Du khách đi theo quốc lộ 14B khoảng 15km sẽ đến địa phận làng cổ. Dòng sông mang cùng tên làng 'Tuý Loan' uốn lượn, ôm ấp lấy làng. Phong cảnh ở đây rất nên thơ, mộc mạc, hữu tình và tiềm ẩn nhiều điều thú vị.

Làng Tuý Loan đã hình thành trên 500 năm, mang đậm dấu ấn của lịch sử, truyền thống và bản sắc văn hóa làng quê Việt Nam. Dân làng Tuý Loan đã xây dựng đình làng để thờ các vị tiền hiền, tổ tiên. Đình Tuý Loan và một di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng quốc gia, một địa chỉ nghiên cứu, tìm hiểu và tham quan hấp dẫn.

Mái đình, cây đa, bến nước... là biểu tượng đặc trưng của làng cổ Việt Nam. Ở đây, làng Tuý Loan có vị trí thuận lợi, là nơi hội tụ giữa đường thủy và đường bộ. Cảnh vật nơi đây đẹp như một bức tranh thủy mặc, có dòng sông, bến nước, bãi bờ, làng quê, đồng lúa, cầu qua, chợ búa... Tương truyền Túy Loan xưa phát triển sầm uất, nổi tiếng trù phú, cảnh trên chợ dưới sông tấp nập. Chợ Tuý Loan như là một trung tâm quy tụ hầu hết sản vật quanh vùng: cá mắm từ Hội An, Đà Nẵng lên, lâm sản từ miền Tây xuống, chiếu, nón, nong rổ Cẩm Nê về...


Bạn có thể chọn những nơi nghỉ dưỡng tại đà nẵng như :Khách Sạn Debay - banahills
Khách sạn DEBAY – Một khách sạn khá yên tĩnh nằm riêng biệt giữa 2 tuyến cáp được xây theo kiến trúc Pháp cổ kính và sang trọng với 2 tầng gồm 21 phòng ngủ hạng sang. Ngoài ra Nhà hàng  Debay với  trang thiết bị bếp hiện đại và sạch sẽ sẵn sàng phục vụ  quý khách các món ăn Âu – Á. Hãy đến với Debay để tận hưởng không gian yên tĩnh, cảnh sắc bình yên của chốn thiên thai.  


Đến với Túy Loan bạn có thể đến thăm những nơi đây:
Con tàu Tiên Sa rời bến Hàn Giang (TP Đà Nẵng) trong âm vang tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn tàu, từ từ chạy về hướng cội nguồn dòng sông. Tàu chạy đến địa phận thôn Bồ Bản là thấy đôi bờ có hàng tre rủ bóng xuống dòng sông xanh. Đây là vùng đất trù phú thuộc xã Hòa Phong (huyện Hòa Vang). Ngoài nghề trồng lúa, bà con còn sống với nghề trồng rau, bầu, bí, cà, ớt... nức tiếng cả vùng.
Chiều sông Túy mây mờ in đỉnh núi.
Chúng tôi lên bờ, ghé thăm đình làng Bồ Bản. Đình được xây dựng giữa năm cái gò cao của làng tượng trưng cho ngũ hành là gò Làng, gò Dinh Ông, gò Chùa, gò Miếu và gò Ổi. Lưng đình dựa vào gò Miếu trong tư thế bền vững với thời gian, bên phải có gò Chùa, gò Miếu Tam Vị hay còn gọi là Quần Hổ, bên trái có gò Ổi còn gọi là Tả Thanh Long hay Long Hổ Hội.
Trước đình (phía Nam) là cánh đồng bao la tiếp giáp với làng Cẩm Toại, nơi có Cấm Mít của đồng bào Chăm và dòng sông Yên hiền hòa uốn khúc, ẩn hiện sau những rặng tre xanh, bao bọc những xóm làng yên ả...
Đình được xây theo dạng ba gian, hai chái, bên trong được bố trí hài hòa. Ở giữa là hương án thờ Thành Hoàng và các vị thần có sắc Vua phong. Bàn thờ bên tả có hai chữ “Quan Tiền” để thờ Tiền Hiền, còn bàn thờ bên hữu có hai chữ “Dũ Hậu” để thờ các vị Hậu Hiền.
Ngoài ra, hai bên tả hữu còn có hai cái long đỉnh chạm trổ rất công phu dùng để thỉnh sắc Vua ban và một cái trang rất cổ, là nơi thờ Quan Thánh Đế Quân. Nơi đây từng là phòng phiếu để bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cũng từng là nơi tổ chức hội họp của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Hằng năm, vào rằm tháng Hai là buổi lễ chạp mộ Tiền Hiền, rằm tháng Tám có lễ tế Thu, giỗ Hậu Hiền và 21 tháng Chạp là lễ cúng Âm linh.
Tàu Tiên Sa chở khách du lịch trên sông Túy Loan
Con tàu lại tiếp tục cuộc hành trình qua khu vực chợ cũ trên sông Túy Loan, đến đình làng Túy Loan có cây đa cổ hơn 100 năm tuổi. Ông Đặng Khôi, Trưởng Ban Trùng tu đình Túy Loan cho biết: “Đình làng Túy Loan là nơi thờ tự năm vị Tiền Hiền: Đặng, Lâm, Nguyễn, Trần, Lê. Năm vị tuân chiếu Vua Lê Thánh Tôn đi mở mang bờ cõi về phương Nam (năm Hồng Đức nguyên niên, 1470), thấy nơi đây phong cảnh hữu tình, đất đai màu mỡ, các chư vị đã dừng chân để lập nghiệp khai khẩn làm ăn, đặt tên là làng Túy Loan.
Lễ hội đình làng Túy Loan
Trải qua bao thăng trầm của thời gian, đình cổ Túy Loan vẫn giữ được nét uy nghi trầm mặc, cổ kính rêu phong. Đình làng Túy Loan được xây dựng lần cuối cùng vào năm Thành Thái thứ nhất (1889) với diện tích hơn 100m2 trong khuôn viên rộng hơn 8.000m2. Hằng năm, mỗi dịp tết đến xuân về, cả hai ngôi đình đều tổ chức lễ hội với nhiều trò chơi dân gian vui nhộn như đua thuyền, đẩy gậy, kéo co...
Lễ hội văn hóa dân gian được tổ chức ở sân đình với những làn điệu dân ca trữ tình như bài chòi, hò khoan, đạp nước... cùng những món ăn đặc sản như mì Quảng, bánh tét, bánh tráng, bánh khô... thơm ngon nổi tiếng. Năm 1999, đình Bồ Bản và Túy Loan được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Đình Bồ Bản
Cách đình Túy Loan khoảng hai cây số theo đường sông, là “khu vườn cổ tích” của anh Đỗ Hữu Minh. Tàu cập bến đá xanh, theo con đường nhỏ đầy lá tre rơi rụng, qua những hàng dâm bụt, chè là đến cổng khu vườn. Từ nhiều năm qua, khu vườn khoảng 3.500m2, nằm sâu trong rặng tre um tùm dọc bờ sông thuộc thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn (huyện Hòa Vang) là một điểm thu hút nhiều khách đến tham quan, nghỉ ngơi vào những ngày cuối tuần.
Độc đáo nhất là ngôi nhà cổ, dài 14m, rộng 10m thiết kế kiểu ba gian hai chái, mái lợp ngói âm dương đã lên màu rêu phong cổ kính. Nhà có 36 cây cột to, hệ thống kèo, đà được chạm trổ hoa văn họa tiết cổ, tinh xảo đã lên màu cánh gián.
Nhà cổ của anh Đỗ Hữu Minh
Chủ nhân của ngôi nhà cho biết: Đây là ngôi nhà có từ thời ông cố của ông để lại, khoảng hơn 100 tuổi, vẫn còn giữ gìn được nét đẹp riêng và ít bị hư hại nhất trong vùng. Trong vườn, cây cối rợp bóng mát, có nhiều nhà bát giác, lục giác... để khách ngồi uống trà, uống rượu. Gần đó là hòn non bộ với non xanh, thủy tú.
Trong vườn, du khách còn bắt gặp những nông cụ như cối xay lúa bằng tre, cối giã gạo, gàu dai, gàu sòng, nhủi cá, cái nơm, áo tơi... thể hiện rõ nét văn hóa đặc sắc của ngàn năm cư dân lúa nước. Khách phương xa sau khi tham quan có thể ngồi câu cá dọc bờ sông hoặc nằm trên võng tre buộc trên những thân cây sát bờ sông.
Chiều xuống, hoàng hôn in bóng xuống dòng sông Túy màu tím đỏ, nhuốm cả đất trời, sông nước mênh mông. 

Đã thèm tô mì Túy Loan

Ở đôi bờ sông Tuý, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng, dọc QL14B cũ và QL14B mới, rồi cả những đường thôn ngõ xóm, quán ăn nào cũng treo bảng bán mì Quảng. Mì Quảng quán nào cũng ngon, nhưng hơn hết là mì Bà Tỉnh ở gần cầu Giăng - 'linh hồn' của mì Quảng Tuý Loan.
 
Mì Bà Tỉnh có sức hút không chỉ vì quán có truyền thống gần 100 năm, với bí quyết riêng về các công đoạn làm bánh tráng, tráng mì... mà còn ở chất lượng và giá hợp túi tiền với đủ loại khách hàng. Tô mì ngon nhờ nhưn chế biến từ thịt mông con bò vừa tơ. Nước lèo cũng hầm từ xương bò này và nêm đủ loại gia vị vừa ngọt vừa thơm. Đậu phộng (lạc) chọn mẻ không để lâu trên một mùa, rang lửa than vừa đủ độ để giữ chất bùi bùi, mằn mặn của đậu.
 

Rau sống dùng kèm phải chín loại, từ cây cải non đương nụ, cọng giá trắng tinh, rau muống non xanh chẻ nhỏ, lá hành chọn nơi gần củ có màu đậm, xà lách chọn lá xanh lợt… cho đến ngò ta xắt dài để ngọn, tất cả trộn đều với bắp chuối chát xắt mỏng như tơ - thấy đã thèm.

Sợi mì mỏng làm từ gạo xiệc chính gốc Đại Hiệp - Đại Lộc - Quảng Nam, ăn vừa có độ dai, vừa bùi mới ngon. Tô mì Bà Tỉnh chỉ 7.000đ cùng cái bánh tráng đặc sản vùng quê bên bờ sông Tuý. Cũng từ lò bánh tráng nhà bà Tỉnh mà ra, thơm lựng, giòn tan. Khách ở xa, sau khi ăn mì thường mua vài chục bánh tráng mang về làm quà.

Tô mì ngon và điệu nghệ như vậy, nên khách đông. Người dân xa xứ về thăm quê không quên đến Tuý Loan thưởng tô mì Bà Tỉnh. Ngày lễ tết, người dân dưới phố, bà con khắp nơi ngang qua Tuý Loan, đi viếng mộ ở nghĩa trang Gò Cà; thăm viếng người thân, bạn bè… vẫn để bụng ăn tô mì Quảng. Theo anh Nguyễn Đại Minh - truyền nhân đời thứ ba, hiện là chủ quán mì Bà Tỉnh cho biết, bình quân mỗi ngày bán 150 tô, chủ nhật lên đến 600 tô, còn những ngày tết thì trên cả ngàn là thường. 'Nhà mình một năm chỉ nghỉ bán ngày ba mươi để rước ông bà, còn lại bán suốt'.