Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Hang Bồ nâu

Hang Bồ nâu, hang bồ nâu , hang bn, bồ nâu, bn

Cách hòn Trống Mái khoảng 2 – 3 km về phía đông nam là hang Bồ Nâu.
Cách hòn Trống Mái khoảng 2 – 3 km về phía đông nam là hang Bồ Nâu. Hang Bồ Nâu có dạng hàm ếch, rộng khoảng 200 m2, đáy hang rộng, phẳng nhưng không sâu, vách có nhiều nhũ đá. Trên trần của hang có vết nứt nên ánh sáng có thể lọt qua đó vào hang. Đáy của hang thắt lại, phía trước hang là một hòn đảo nên ánh sáng trong hang không bao giờ chói chang. Cửa hang có ba phiến đá hình dáng giống như ba ông tiên đang chụm đầu lại với nhau trong tư thế hai người đang đánh cờ và một người làm trọng tài.
Hang Bồ Nâu là một trong những hang đẹp của vịnh Hạ Long, nơi đây là nguồn cảm hứng sáng tác của bao nhà nhiếp ảnh bởi vẻ đẹp của nó.




Khách Sạn Mithrin Hạ Long là một trong những khách sạn ở hạ long tốt. Khách sạn ở Đường Hùng Thắng, Cái Dăm, P. Bãi Cháy, Tp. Hạ Long

Khách Sạn Mithrin Hạ Long là khách sạn 4 sao đạt tiêu chuẩn quốc tế, chính thức đi vào hoạt động năm 2004.
Với 88 phòng khách có nội thất sang trọng, đầy đủ đồ dùng, trang trí ấm cúng, tao nhã cùng với cửa sổ rộng nhìn ra vịnh Hạ Long xinh đẹp, Khách Sạn Mithrin Hạ Long sẽ làm cho quý khách thực sự cảm thấy thoải mái, thuận tiện và hài lòng bởi tính chuyên nghiệp, mến khách và thân thiện của toàn thể nhân viên khách sạn.
Với sự yên tĩnh, dịch vụ tốt và vị trí thuận tiện, chỉ cách bến tầu du lịch khoảng 10 phút đi bộ và 10 phút đi xe tới khu công nghiệp Cái Lân, Khách Sạn Mithrin Hạ Long dần trở thành một địa chỉ tin cậy cho cả khách du lịch và khách thương gia tại trung tâm đang phát triển nhanh về du lịch của thành phố Hạ Long

Sau đó bạn hãy thăm quan Hồ Ba Hầm

Hồ Ba Hầm, hồ ba hầm , hồ bh, ba hầm, bh

Nằm ở phía tây nam vịnh Hạ Long, hồ Ba Hầm nằm trên đảo Đầu Bê thuộc vịnh Lan Hạ. Đảo Đầu Bê là một trong những nhóm đảo phía ngoài cùng của vịnh Hạ Long tiếp giáp với vùng biển Long Châu bát ngát. Hồ Ba Hầm ở giữa một trũng biển hẹp hình chữ nhật, bốn bề núi cao dựng đứng.
Hồ Ba Hầm là một hệ thống gồm ba trũng biển lớn hình tròn, được thông với nhau qua một hang luồn hẹp, uốn khúc quanh co. Từng chùm nhũ đá muôn sắc màu rủ xuống từ trần hang với nhiều hình thù kỳ lạ. Trên đảo là những loài cây như phong lan, si, đa, thiên tuế… bốn mùa xanh tươi thơm ngát mùi hoa, đó cũng là nơi sinh sống quần tụ của các loài khỉ lông vàng, chim, sóc bay, dơi… Dưới mặt nước xanh biếc ấy là cuộc sống sôi động của nhiều loài hải sản.
Mặc dù xa bờ tới 25 km, nhưng ngay từ xưa, hồ Ba Hầm đã được du khách và những người yêu thiên nhiên chú ý đến từ lâu. Trong cuốn “Merveille de Monde” xuất bản năm 1938 chuyên giới thiệu những danh lam thắng cảnh đã mô tả Hồ Ba Hầm như sau: Đến Hồ Ba Hầm, có cùng một ấn tượng đẹp như đến Hang Luồn, động Sửng Sốt nhưng phong cảnh ở đây còn đẹp hơn nhiều. Cửa vào hồ Ba Hầm không được dễ dàng như vào Hang Luồn, nhưng đó chính là cái thú của người đi tham quan ngắm cảnh. Cửa hang hình bán nguyệt mở ra bên vách đá bằng phẳng phía tây bắc của đảo, cách mặt nước 4 – 5 m, đúng là mặt vịnh thông với dòng hải lưu uốn lượn từ Cửa Vạn vào.
Từ cửa hồ, du khách sẽ đi vào hầm thứ nhất: một rừng nhũ đá với các màu tím, hồng, lam, trắng… rủ xuống mặt nước trông như rễ đa, rễ si. Càng vào sâu càng tối. Đáy hang sâu thẳm và trong vắt có thể nhìn thấy từng đàn cá tung tăng bơi lội. Đi vào sâu khoảng 100 m có một luồng ánh sáng chiếu từ trần hang xuống, khách sẽ nhìn thấy nhiều loại hoa phong lan bám quanh vách núi, cây vạn tuế mọc rải rác ở các khe đá, trúc đuôi gà mềm mại lá vàng mọc từng khóm. Hầm thứ hai có một cây khế cổ thụ mọc trên vách phía đông nam ra hoa kết trái quanh năm. Từng bầy khỉ lông vàng, sóc bay, vẹt đầu bạc… tụ tập trên cành. Hầm thứ ba cách hầm thứ hai một vách núi và đi qua một hang luồn khoảng 5 phút. Đây là nơi trú ngụ của các loài dơi, bướm.
Giữa không gian yên tĩnh, chỉ có tiếng mái chèo khua nước róc rách, thuyền bơi trong hồ như đang bơi trong lòng giếng sâu thăm thẳm vậy, bốn bề vách đá dựng đứng. Hồ Ba Hầm là một trong những cảnh đẹp kì thú của vịnh Hạ Long.
Nước hồ trong veo và quang cảnh bình yên
Cảnh bình minh ở Ba Hầm

Đặc sản tu hài bạn nên nếm thử

Có lẽ ít người biết đến một loại hải sản mang tên tu hài. Nó không quen thuộc và có nhiều như ngao, tôm, sò… nhưng nếu ai đã một lần thưởng thức, chắc hẳn sẽ không thể quên được hương vị rất đặc trưng của loại hải sản này. Dưới đây là cách chế biến và thưởng thức đặc sản tu hài – món ăn nổi tiếng của huyện đảo Vân Đồn.
Tu hài là loài hải sản quý hiếm, có giá trị dinh dưỡng cao, đã được nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm thành công từ năm 2005 ở khu vực bờ vịnh Bái Tử Long, huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Sản phẩm tu hài nuôi hiện đã có mặt ở các nhà hàng hải sản tươi sống tại Quảng Ninh và một số thành phố lớn.
Xin được giới thiệu cách chế biến và thưởng thức món tu hài:
- Chọn những con tu hài có kích thước tương đối đều. Thông thường người ta ngâm tu hài từ 2 đến 3 phút trong chậu nước nóng khoảng 80- 90 độ C. Sau đó rửa sạch vỏ bên ngoài. Làm nên hương vị riêng biệt của tu hài hấp phụ thuộc rất nhiều vào gia vị được bỏ vào từng con tu hài.
- Tỏi và hành khô được băm nhỏ ra sau đó cho dầu lên chiên, hành hoa thái nhỏ trộn đều, sau đó cho nước mắm, mì chính, hạt tiêu vào tu hài và cho lên hấp.
Dac san tu Hai
- Sau khi hấp khoảng 12 đến 15 phút vớt tu hài ra đĩa. Mùi thơm của tu hài hấp quyện với mùi gia vị thật quyến rũ. Hãy rang trí khéo léo để có món tu hài khai vị bắt mắt và hấp dẫn hơn.
Món tu hài hấp khai vị ăn vừa mát vừa thanh, vừa có có dư vị ngọt rất riêng. Thịt tu hài hấp dòn, quyện với mùi gia vị thơm nức. Có thể nói khó có một món khai vị nào ngon, bổ dưỡng và an toàn vệ sinh như món tu hài hấp. Đó cũng là lý do để nhiều nhà hàng ở huyện Vân Đồn chọn món Tu hài hấp khai vị là món không thể thiếu trong thực đơn nhà hàng của mình và giờ đây, tu hài đã trở thành món được nhiều người biết đến trong cả nước.

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

Hòn Soi Sim

Hòn Soi Sim, hòn soi sim , hòn ss, soi sim, ss

Soi Sim là một hòn đảo đất nằm cách đảo Ti Tốp 700 m, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 12 km.
Trên đảo có rất nhiều cây xanh. Ban quản lý Vịnh Hạ Long đang chuẩn bị xây dựng hệ thống dịch vụ và một số nhà nghỉ sinh thái ở trên đảo này với các dịch vụ đủ tiện nghi để phục vụ du khách. Hiện nay một bãi tắm nhỏ đã được chỉnh trang, nâng cấp góp phần tạo nên một khu du lịch đẹp và hấp dẫn.
 

Hòn Ngón Tay là điểm đến tiếp theo:

Hòn Ngón Tay nằm trên đường ra đảo Ti Tốp, thuộc vịnh Hạ Long.
Vị trí: Hòn Ngón Tay nằm trên đường ra đảo Ti Tốp, thuộc vịnh Hạ Long.
Ðặc điểm: Trông như một “ngón tay cái” chỉ lên trời.
Tiếp tục cuộc hành trình tới đảo Ti Tốp, du khách sẽ thấy một đảo đá “mọc” trên mặt nước có hình một ngón tay cái khổng lồ. Tạo hoá đặt hòn Ngón ở đây dường như muốn nhắn gửi cho du khách muôn nơi về những điều tốt đẹp trong hành trình khám phá Hạ Long.
Khách Sạn Sài Gòn Hạ Long là một trong những khách sạn tại hạ long phù hợp với bạn. Khách sạn ở 168 đường Hạ Long, phường Bãi Cháy, TP Hạ Long, Quảng Ninh, Việt Nam




Ốc móng tay món ngon bạn không nên bỏ qua

“Móng tay” là một loại ốc chỉ có ở những vùng biển, cái tên của loài ốc này cũng bắt nguồn từ chính hình dáng của nó. Người ta bắt ốc móng tay dựa vào sự lên xuống của thủy triều. Loài nhuyễn thể này thường sống trong cát bùn ở các cửa biển, chủ yếu ăn phiêu sinh vật. Khi thuỷ triều lên, nó trồi ra khỏi hốc và nhanh chóng lủi sâu xuống cát mỗi khi có động nhờ vào cái chân thật mạnh.
Ốc móng tay được khai thác quanh năm nhưng vào đầu mùa mưa (khoảng tháng 5, 6 dương lịch) là thời gian ốc móng tay có thịt, chắc và ngon nhất. Từ ốc móng tay người ta có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon, độc đáo như: ốc móng tay xào rau răm, xào me, xào dứa, xào tía tô, xào rau muống, gỏi ốc móng tay sứa, ốc móng tay trộn chua cay, hay ốc móng tay sốt cá…
Ốc móng tay khi mang từ biển lên được ngâm trong nước khoảng 15 phút cho sạch cát bên trong rồi mới đem chế biến thành các món ăn. Muốn ốc sạch hơn thì đem ngâm với nước chanh pha loãng. Khi ăn tách vỏ ốc, thịt ngọt và thơm. Món đơn giản thường được người ta dân địa phương chế biến là hấp và xào.
oc-mong-tay
Ốc móng tay khi mang từ biển lên được ngâm trong nước khoảng 15 phút cho sạch cát bên trong rồi mới đem chế biến thành các món ăn. Muốn ốc sạch hơn thì đem ngâm với nước chanh pha loãng. Khi ăn tách vỏ ốc, thịt ngọt và thơm. Món đơn giản thường được người ta dân địa phương chế biến là hấp và xào.
Có thể làm món gỏi ốc móng tay với sứa. Ốc móng tay rửa sạch, nhúng qua nước nóng, rồi lấy phần thịt. Ngâm thịt ốc vào hỗn hợp mù tạt, bơ khoảng 20 phút. Sau đó trộn với sứa làm gỏi. Món gỏi cần có thêm rau răm, rau thơm, tỏi, xoài xanh thái lát, đậu phộng rang, ớt …). Gỏi ốc móng tay có vị cay đặc trưng của mù tạt, vị béo của bơ, kèm theo vị mát tanh tanh của ốc ngón tay và sứa… chắc chắn sẽ để lại hương vị khó quên. Gỏi ốc ăn kèm với bánh tráng nướng, nhâm nhi với ly rượu trắng thì hết ý.
Bên cạnh đó, người ta còn lấy ốc móng tay xào tía tô. Ốc móng tay đem ngâm nước rồi rửa sạch, tách lấy thịt, ướp với hạt nêm. Lá tía tô rửa sạch, thái sợi nhỏ. Thịt ba chỉ đem luộc chín, thái thật nhỏ. Phi thơm tỏi, sau đó cho nước me vào xào ốc móng tay với thịt ba chỉ, cho đường, gia vị vừa ăn. Cuối cùng cho tía tô vào đảo đều và tắt lửa.
oc-mong-tay1
Ốc móng tay xào tía tô ăn vừa ngon, hơn nữa, tía tô lại có tác dụng giải cảm, chữa bệnh đau đầu. Ốc móng tay hấp bia cũng là món đơn giản được nhiều người ưa chuộng. Ốc móng tay hấp bia được ăn kèm với muối tiêu chanh và rau răm – loại rau gia vị rất hợp ăn kèm cùng loài ốc móng tay.

Tịnh Xá Ngọc Phước

Tịnh Xá Ngọc Phước, tịnh xá ngọc phước, tx ngọc phước, tx np, ngọc phước, np

Vị trí: phường long Toàn, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Tịnh xá Ngọc Phước, Gó Cát 1, phường long Toàn, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu hiện nay, tiền thân là tịnh xá Ngọc Hòa, toạ lạc tại núi Chân Tiên, xã Tam Phước, tỉnh Phước Tuy (cũ), do Hòa thượng Pháp sư Trưởng Giáo đoàn 5 cùng với chư tôn đức sáng lập năm 1957, trên đường hành đạo từ miền Trung đi về phương Nam.
Tịnh xá Ngọc Phước, Gó Cát 1, phường long Toàn, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu hiện nay, tiền thân là tịnh xá Ngọc Hòa, toạ lạc tại núi Chân Tiên, xã Tam Phước, tỉnh Phước Tuy (cũ), do Hòa thượng Pháp sư Trưởng Giáo đoàn 5 cùng với chư tôn đức sáng lập năm 1957, trên đường hành đạo từ miền Trung đi về phương Nam.
    Hơn một năm sau, Hòa thượng Pháp sư cùng với chư Tăng được ông Trần Văn Phán ở chợ Lớn, một Phật tử tín tâm hết lòng vì Phật pháp, hiến cúng một khu đất có diện tích 1.000m2  nằm cạnh hòn Bút, gần chùa Thiên Thai, Long Điền, để xây dựng ngôi tịnh xá Ngọc Hòa, làm nơi tịnh tu cho chư Tăng. Buổi đầu khai sơn tạo tự giữa khu rừng hoang trong thời điểm hết sức khó khăn; ngôi chánh điện và các am cốc đều chỉ bằng vật liệu thô sơ, tuy vậy chư Tăng vẫn giữ được nếp sống thanh bần lạc đạo của người hành giả Khất sĩ.
    Đến năm 1961, một lần nữa tịnh xá Ngọc Hòa lại phải tính đến việc dời về Bà Rịa; được Phật tử ở đây hỗ trợ, ngôi tịnh xá mọc lên, lần này đổi hiệu là tịnh xá Ngọc Phước. Các đời trụ trì từ giai đoạn này trở đi đã ra sức xây dựng, tôn tạo cho ngôi tịnh xá này thêm hoàn mỹ, trong đó phải kể đến công sức của quý Đại đức: Min Đạo, Minh Tuyên, Minh Hồi, Minh Hạnh... Trong thời gian này, tịnh xá do Hoà thượng Thích Giác Nhu làm viện chủ, đã duy trì và thúc đẩy các sinh hoạt Phật sự và tu tập đi vào quy củ, ổn định.
    Năm 1984, do thiếu nhân sự quán xuyến Phật sự tại đây, chư tôn đức Giáo đoàn đã ủy nhiệm cho Ni sư thích Nữ Mai Liên tiếp tục đảm nhận vai trò hoằng dương chánh pháp và hộ trì Tam bảo. Từ đó, Ni sư bắt tay vào gầy dựng lại, từ xây dựng, tu bổ đến việc điều hành Ni chúng, hướng dẫn tu tập cho Phật tử v.v... Năm 1999, do phục vụ cho yêu cầu quy hoạch khu thương mại của địa phương, tịnh xá một lần nữa lại phải dời về địa chỉ hiện nay - Gó Cát 1, phường Long Toàn. Ni sư trụ trì lại phải tiếp tục gánh vác công việc trùng tu ngôi tịnh xá mới trên diện tích đất rộng 8.000m2  được nhà nước giúp đỡ hoán đổi.
        Từng bước một, các cơ sở vật chất lần lượt được xây dựng, đủ sức đáp ứng các sinh hoạt tín ngưỡng của một ngôi đạo tràng. Đặc biệt vào giữa năm 2001, tịnh xá có phúc duyên lớn thực hiện được công trình đúc tượng Phật bằng đồng nặng 1 tấn, áo Phật đắp bằng vàng. Đây cũng là tượng Phật bằng đồng đầu tiên tại tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu.
    Các công trình đài Quan Âm, nhà thờ linh cốt cùng với Ni xá, nhà ăn... đã được xây dựng và đưa vào sử dụng; riêng ngôi bảo điện chỉ mới hoàn thành tầng dưới, đang tạm dùng làm nơi thờ Phật và Tổ chức các khóa lễ; tầng trên vẫn còn dang dở, bên cạnh đó, đơn vị Gia đình Phật tử Ngọc Phước cũng vừa được thành lập trở lại, sinh hoạt đều đặn vào ngày chủ nhật hàng tuần với 5o đoàn sinh, tạo nên một kbông khí tu học sinh động của tuổi trẻ Phật giáo.
    Trong điều kiện phải dời chuyển nhiều lần, phải bắt tay xây dựng lại từ đầu, mới thấy được đạo tâm hùng lực kiên cố của Ni sư trụ trì và tập thể chư ni đã dày công góp phần kiến tạo và trùng hưng ngôi già lam được tiếp nối bởi nhiều thế hệ chư tôn đức tiền bối, kế thừa xứng đáng mang mạch giáo pháp của Đức Như Lai.

Bạn có thể dễ dàng chọn cho mình một khách sạn ở vũng tàu. Chẳng hạn như Khách Sạn Nhà Việt ở Quốc Lộ 51, Phú Mỹ,Huyện Tân Thành, Vũng Tàu
 Nếu bạn đang muốn tìm một khách sạn có vị trí thuận lợi thuộc Vũng Tàu, không lựa chọn nào tốt hơn Nha Viet Hotel. Cách sự nhộn nhịp của thành phố 16. Km, khách sạn 2 sao này có vị trí vô cùng thuận lợi và dễ tiếp cận các địa điểm lớn của thành phố này. Với vị trí thuận lợi, khách sạn dễ dàng tiếp cận những điểm tham quan du lịch nổi tiếng của thành phố.
Nha Viet Hotel mang lại dịch vụ hoàn hảo, làm hài lòng cả những vị khách khó tính nhất với những tiện nghi sang trọng tuyệt vời. Thang máy, người vận chuyển hành lý, phòng hút thuốc, đưa đón khách sạn/sân bay, thiết bị phòng họp chỉ là một vài trong số những thiết bị được lắp đặt tại Nha Viet Hotel ngoài một số khách sạn khác trong thành phố.
Bước vào một trong 38 phòng khách, bạn như rũ bỏ một ngày dài căng thẳng với một loạt tiện nghi như két sắt, truyền hình cáp, máy lạnh, ban công, bồn tắm. Khách sạn mang lại phương tiện giải trí đa dạng, bao gồm vườn. Dù bạn đến để thư giãn hay làm gì, Nha Viet Hotel luôn là sự lựa chọn hoàn hảo cho kì nghỉ của bạn ở Vũng Tàu.

Chùa Núi Thị Vải (Linh Sơn Bửu Thiền) là điểm đến tiếp theo:

Chùa Núi Thị Vải (Linh Sơn Bửu Thiền), chùa núi thị vải, linh sơn bửu thiên, núi thị vải

Chùa tọa lạc trên núi Thị Vãi, thuộc xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo Quốc lộ 51 đi Vũng Tàu, qua khỏi chùa Đại Tòng Lâm 100m, rẽ trái đi vào 2km là tới chân núi Thị Vãi. ĐT: 064.876950. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Toàn cảnh chùa

Tên thường gọi:
Chùa Núi Thị Vãi Chùa tọa lạc trên núi Thị Vãi, thuộc xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo Quốc lộ 51 đi Vũng Tàu, qua khỏi chùa Đại Tòng Lâm 100m, rẽ trái đi vào 2km là tới chân núi Thị Vãi. ĐT: 064.876950. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.
Theo sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, bà Lê Thị Nữ là người đầu tiên tu trên đỉnh núi, nên núi có tên là Thị Vãi. Ni sư Diệu Thiện (Lê Thị Nữ) đã cứu Nguyễn vương thoát nạn, sau lên ngôi là vua Gia Long. Vua đã sắc phong cho Ni sư Diệu Thiện là Linh Sơn Thánh mẫu, sắc tứ Linh Sơn Bửu Thiền tự.
Trải qua một thời gian, chùa được truyền đến Hòa thượng Thích Từ Thuận. Ngài đắc đạo và nổi tiếng cứu dân độ thế trong vùng này. Sau đó, Hòa thượng Thích Trí Đức kế nghiệp trụ trì.
Chùa bị hư hại nặng năm 1945, đến năm 1966 thì chùa bị phá hủy hoàn toàn.
Cổng chùa
Chùa Linh Sơn Bửu Thiền (chùa Thượng)

Cảnh quan chùa Thượng
Năm 1993, Thượng tọa Thích Trí Thâm trùng tu chùa, nhưng mới mở đường lên núi và bắt đầu xây chùa thì viên tịch.
Năm 1999, Hòa thượng Thích Trí Quảng đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Các công trình do Hòa thượng Viện chủ thực hiện gồm có: Cổng chùa, Chùa Liên Trì, chùa Hồng Phước và Quang Minh điện, chùa Tổ hay Linh Sơn Bửu Thiền tự gồm chánh điện, điện Tỳ Lô Giá Na, vườn Cực lạc, tượng Phật Niết bàn, điện Quan Âm v.v…
Cổng chùa ở chân núi được xây bằng đá, trên có hai mái lợp ngói. Mặt trước, một bên có biển ghi tên chùa: Linh Sơn Bửu Thiền Tự, Linh Sơn Hồng Phúc Tự, Linh Sơn Liên Trì Tự. Một bên khắc văn bia chùa Bửu Thiền của Sơn tăng Nhật Nghiêm (2001). Bài văn có đoạn:
“… Nhờ Phật tử bốn phương, nên công việc đại trùng tu kết quả. Đường lên non khai phá, Quang Minh điện khởi công. Tăng tục quyết một lòng, xây Liên Trì Hải Hội. Những người hết tội, được vào lâu các Tỳ Lô Giá Na. Muốn độ chúng Ta bà, xin hướng về Linh Sơn Phật hiện. Xây dựng Đại hùng bửu điện, làm nơi đàn tín quy y. Lấy cát ở Liên Trì, tạo nên trai đường, Tăng xá. Muốn thành đạo cả, phải vượt Sanh Tử trường kiều. Phật pháp cao siêu, thường gặp trên Niết bàn sơn đảnh. Tổ sư ngộ tánh từ miệng cọp, hang rồng. Tứ đại giai không, được lên bờ giải thoát…”.
Chùa Liên Trì nằm ở chân núi Thị Vãi, là nơi nghỉ ngơi của khách hành hương trước khi vượt 1.340 bậc cấp đến chùa Linh Sơn Bửu Thiền.
Chùa Liên Trì
Chùa Hồng Phúc hay chùa Giữa, chùa Trung được xây dựng để nhớ công đức của Hòa thượng Thích Trí Đức. Cạnh chùa là điện Quang Minh thờ Bồ tát Di Lặc ngồi trên tòa sen đặt trên lưng con rồng.
Qua chùa Trung, khách hành hương tiếp tục lên núi. Leo những bậc cấp cuối cùng với độ cao khoảng 750m (tính từ mặt nước biển), khách hành hương đến chùa Tổ (chùa Thượng hay chùa Linh Sơn Bửu Thiền). Ở đây có những pho tượng Kim Cương lộ thiên, tượng Bồ tát Quan Âm đứng uy nghi giữa trời, dưới chân có một con rồng đang uốn lượn.
Ngôi chánh điện chùa Linh Sơn Bửu Thiền quay mặt hướng Nam. Trước chánh điện là pho tượng đức Phật Thích Ca nhập niết bàn. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa thờ đức Phật Thích Ca, phía trước đặt tòa Cửu Long và tượng Đản sanh, hai bên có tượng Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền. Trước tượng đản sanh là tượng Di Lặc. Bàn thờ hai bên thờ tượng Bồ tát Quan Âm và Bồ tát Địa Tạng. Bàn thờ hai bên phía trong cửa chính thờ tượng Tiêu Diện, tượng Hộ Pháp và tượng Quan Thánh. Phía sau điện Phật là bàn thờ Tổ sư Đạt Ma.
Điện Tỳ Lô Giá Na được xây dựng trên nền chùa Bửu Thiền cũ. Điện thờ Pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật và hai vị Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền.
Điện Tỳ Lô Giá Na

Điện Quang Minh

Hang Ông Hổ
Trước điện Tỳ Lô Giá Na là hồ sen, bên dưới có một mỏ cát lớn. Nhờ cát ở hồ này mà nhà chùa thực hiện những công trình xây dựng trên núi nhanh chóng, thuận lợi.
Trước ao sen là Sanh Tử trường kiều. Khách hành hương đi trên cầu này, ngắm nhìn hoa sen bên dưới, hình dung đang đứng trên hoa sen vượt sanh tử đến bờ giác ngộ.
Phía sau điện Tỳ Lô Giá Na là vườn Cực Lạc. Chùa tôn trí tượng bán thân đức Phật A Di Đà, đầu tựa vào một phiến đá lớn.
Sau ngôi chánh điện, có khu nhà Tăng, nhà trai, nhà bếp …
Bên cạnh nhà trai, có đường lên điện Quan Âm và đường lên Niết Bàn Sơn Đảnh. Ở nơi cao nhất núi Thị Vãi, các tảng đá được thiên nhiên sắp xếp trông giống như pho tượng Phật nhập niết bàn.
Ngoài ra, trên núi cũng còn những cảnh trí thiên nhiên nổi tiếng như hang động nơi Tổ đã an tọa tu hành, giếng nước ông Hổ, giếng Tiên, Phật môn, hang Gió và nhiều hang động nơi người xưa đã ẩn tu.
Ngày 10 – 4 – 2003, Sư cô Thích Nữ Tâm Hạnh, ni chúng chùa Hương Sơn cùng các chú sa di chùa Niết Bàn, tất cả 37 vị đã đến chân núi Thị Vãi, trước sân chùa Liên Trì. Y hậu trang nghiêm, các cô đồng quỳ xuống nguyện hương và thực hành Tam bộ nhất bái từ chùa Liên Trì đến chùa Linh Sơn Bửu Thiền.
Ngày nay, chùa thường xuyên đón tiếp nhiều du khách, Phật tử, sinh viên – học sinh đến chiêm bái, tham quan, sinh hoạt.

Lẩu cá đuối món ngon không thể bỏ qua ở Vũng Tàu

Ngoài bánh khọt, lẩu cá đuối cũng là một món ăn ngon được nhiều người ưa thích ở Vũng Tàu. Chế biến món ăn này đơn giản và không mất nhiều thời gian. Cá đuối sau khi mua về được cắt bỏ mang, mổ dọc dưới miệng cá, bỏ hết phần ruột bên trong. Rửa cá lại bằng nước sạch, sau đó rửa qua với giấm hoặc rượu rửa sạch để tránh mùi tanh đồng thời tăng thêm hương vị cho cá.
lau-ca-duoi-885653-1368287580_600x0.jpg
Thái cá thành từng miếng nhỏ khoảng hai ngón tay rồi xếp vào đĩa, tẩm ướp gia vị cho vừa miệng. Phần sụn cá đuối rất mềm nên có thể cắt nhỏ cho vào nồi ninh để ngọt nước. Ngoài phần thịt cá, lẩu cá đuối còn hấp dẫn người ăn bởi vị chua nhẹ của nước dùng được nấu từ măng chua cùng hương thơm của rau ngổ, ngò gai... Ăn kèm lẩu là các loại rau như rau muống, rau chuối, bún và không thể thiếu chén nước mắm với vài trái ớt tươi thái lát.

Lễ hội Nghinh Cô - Dinh Cô

Lễ hội Nghinh Cô -  Dinh Cô, lễ hội nghinh cô-dinh cô , nghinh ông-dinh cô, nghinh ông, dinh cô
Vị trí: Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Thời gian: 12/2 âm lịch. Địa điểm: Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Đối tượng suy tôn: “Cô” có tên là Lê Thị Hồng Thuỷ. Đặc điểm: Lễ hội nước (lễ rước bằng tàu thuyền trên biển) đông người tham dự. Ngày vía cô trở thành lễ hội lớn thu hút rất đông khách từ nhiều tỉnh thành khác đến. Các đội múa lân, dàn nhạc ngũ âm từ nhiều tỉnh Nam bộ đến góp vui. Các nghi lễ trong ngày hội: lễ cầu an tại chính điện vào đêm hôm trước. Bên ngoài diễn ra đêm hội hoa. Lễ rước vào sáng 12 trên hàng chục chiếc ghe thuyền trang hoàng lộng lẫy để cầu mong trời yên bể lặng, tôm cá đầy khoang.
Lễ hội Nghinh Cô nằm trong hệ thống lễ hội thờ Mẫu - Nữ thần tiêu biểu của ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu. Nhưng đây không đơn thuần chỉ thờ Mẫu - Nữ thần mà là sự kết hợp của lễ hội Cầu Ngư với tục thờ cúng Thần biển (Bà Thủy Long, cá voi của người Chăm) và tín ngưỡng thờ Mẫu - Nữ thần của cư dân địa phương. 
Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 tháng 02 âm lịch hàng chục ngàn người ở khắp các miền quê tề tựu về Dinh Cô (Thị trấn Long Hải - Bà Rịa - Vũng Tàu) tham dự lễ hội. Đây là lễ hội không thuộc loại lâu đời nhưng lại được coi là một trong những lễ hội nước lớn nhất của ngư dân ven biển Nam Bộ. Lễ hội diễn ra ở Dinh Cô, dưới mom núi Thùy Vân thuộc ấp Hải Sơn, thị trấn Long Hải huyện Long Đất. Người dân địa phương thường gọi đây là lễ hội Dinh Cô.


Truyền thuyết kể lại rằng, có một cô gái tên là Lê Thị Hồng Thủy, quê quán ở Phan Rang. Cô là con gái duy nhất của ông Lê Văn Khương và bà Thạch Thị Hà. Thỉnh thoảng cô hay theo cha vào vùng Bà Rịa và Gò Công buôn bán. Cô rất yêu cảnh mến người và không muốn rời xa vùng đất phía Nam. Trong một lần vào Nam buôn bán, khi thuyền còn neo đậu tại vùng Mù U (Long Hải), cô không muốn rời khỏi đất này nên đã xin cha ở lại đây sinh sống lâu dài. Nhưng người cha kiên quyết không bằng lòng nên buộc cô phải trở về quê hương cùng ông. Khi thuyền bắt đầu nhổ neo, người cha tìm mãi không thấy cô đâu. Sau ba ngày không tìm thấy cô ông buồn bã quay về quê nhà.

Vài hôm sau, xác cô trôi dạt vào Hòn Hang. Ngư dân Phước Hải chôn cất cô trên đồi cát gần nơi tìm thấy xác cô (đó là Mộ Cô bây giờ). Mộ của cô luôn được cát bồi đắp, cỏ không mọc được mà ngay bên cạnh một cây đa tươi tốt mọc nhanh như thổi che mát mộ Cô. Sau một thời gian vùng này có dịch bệnh, có rất nhiều người bị đau và chết. Trong khi dịch bệnh đang hoành hành thì có người nằm mơ thấy Cô báo mộng về giúp dân làng vượt qua khỏi dịch khí. Dân làng thấy vậy liền thắp hương cầu khấn cô, quả nhiên dịch bệnh qua khỏi. Sau sự việc ấy, có người đã xin bà con xây am thờ phụng để mong Cô sẽ độ trì dân làng làm ăn phát đạt cuộc sống an lành. Hàng năm lễ hội Dinh Cô được ngư dân Long Hải tổ chức rất long trọng theo nghi thức cổ truyền vào 3 ngày từ 10 đến 12 tháng 2 âm lịch.

Trong ngày lễ. Dinh Cô được trang hoàng hết sức rực rỡ, trang nghiêm, có chăng đèn kết hoa. Các nhà trong vạn ghe đều đặt bàn hương, trên có nhang đèn, bánh trái, mâm xôi... ban đêm có treo đèn lồng. Các tàu thuyền của ngư phủ đều đậu ờ bến, mỗi chiếc đều treo đèn giấy nhiều màu, kết hoa từ mũi đến lái, kể cả cột buồm. Những chiếc thuyền ghe từ các làng cá như Long Hải, Phước Hải, Phước Tỉnh, Vũng Tàu và một số thuyền ghe từ miền Trung vào đều trở nên rộng lẫy. Vì thế, ban đêm ở đây hiện ra cảnh nhộn nhịp huy hoàng của hội hoa đăng. Thuyền ghe nào ở đây cũng hướng mũi vào trước Dinh Cô thực hiện nghi thức "Chầu Cô".

Khi đêm xuống những chiếc thuyền ghe chiếu sáng một góc trời. Ngư dân tin rằng khi thuyền của họ về chầu Cô, nếu trang trí đẹp cũng có nghĩa là bày tỏ lòng thành kính chân thành với Cô cùng với sự mong cầu Cô phù hộ, giúp đỡ cho thuyền ghe nhiều tôm cá. Chính từ quan niệm ấy cho nên tất cả các thuyền ghe đều thi đua trang trí thuyền ghe của mình sao cho đẹp nhất, tạo nên một vùng biển với hàng trăm chiếc ghe trang trí đủ màu sắc.


Một nghi thức khác xuất hiện trong lễ hội Nghinh Cô là lễ phóng sinh. Người ta mua chim để trong lồng và tổ chức thả chim ra, tương tự việc phóng sinh vào các ngày rằm hay mồng một mà nhân dân một số nơi vẫn làm.
Trong những ngày diễn ra lễ hội Nghinh Cô ở Bà Ria Vũng Tàu có các đoàn hát về diễn tuồng và hát bội. Các vở diễn cũng có nội dung giống như các vở diễn trong lễ Nghinh Cô. Ngoài ra, người ta còn tổ chức múa lân sư rồng, múa bông (mâm ngũ sắc, mâm vàng, mâm bạc) và các trò chơi dân gian khác như thi bắt cá, bắt lươn và các môn thi đua thuyền, đua thúng… Các trò chơi dân gian này thường thu hút đông đảo thanh niên ngư dân trong lòng tham gia. Vì vậy mà trò chơi này thường diễn ra rất hào hứng và sôi nổi vì sự cổ vũ nhiệt tình của người xem, giúp cho lễ hội thêm phần náo nhiệt và hấp dẫn.



Như vậy, có thể nói nét độc đáo của lễ hội Nghinh Cô Long Hải chính là sự hội tụ, ngưng đọng của nhiều dòng, nhiều nét đẹp văn hóa và hương vị riêng của mọi miền. Và trong khoảnh khắc của không khí lễ hội thiêng liêng và tin cẩn này, người dự hội có cảm giác khoảng cách giữa thần linh và đời sống dân dã dường như không còn nữa. Chính sự quy mô và thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham dự lê hội Nghinh Cô đã tạo ra một diện mạo và tác động tích cực đối với lễ hội khác ở địa phương và trong vùng.

Khách Sạn Long Hải ở Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền là một trong những khách sạn tại vũng tàu phù hợp với bạn
Ngoài ra còn rất nhiều khách sạn tại vũng tàu khác phù hợp với bạn.

Đến đây bạn hãy đến Bãi tắm Long Hải

Bãi tắm Long Hải, bãi tắm long hải, long hải, vũng tàu

Bãi Long Hải thuộc thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, cách thành phố Vũng Tàu 30km về hướng đông bắc.



Chạy dài, uốn lượn phía nam chân núi Thùy Vân, hay Kỳ Vân (ngày nay có tên Minh đạm), bãi Long Hải là một bãi biển sạch, đẹp, nước xanh trong.
Cảnh thiên nhiên ở đây thật thơ mộng. Bãi cát vàng chạy dài, yên tĩnh dành cho du khách yêu biển nhưng không thích ồn ào. Nối liền với bãi Long Hải là đèo Nước Ngọt. Nơi đây núi đá vươn ra biển thách thức cùng với sóng tạo nên phong cảnh vừa nên thơ vừa hùng vĩ.
Phía bên kia đèo Nước Ngọt là rừng hoa anh đào. Mỗi khi xuân về, từ trên đèo Nước Ngọt nhìn xuống du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước màu tím trắng của anh đào, màu xanh của rừng và biển Long Hải.

Bánh khọt bạn nên thưởng thức khi đến Vũng Tàu

Bánh khọt là một món ăn ngon rất nổi tiếng của thành phố biển Vũng Tàu. Chiếc bánh có hình dáng như bánh căn của người miền Trung, cũng được làm từ bột gạo. Nhưng khác với bánh căn có nhiều loại nhân, bánh khọt chỉ đổ với nhân tôm đã bóc bỏ vỏ.
banh-khot-559215-1368287580_600x0.jpg
Một điểm khác nữa là nước chấm và cách thưởng thức. Người miền Trung ăn bánh căn với nhiều loại nước chấm như: nước mắm ngọt, nước mắm nêm, nước lèo đậu phụng, khi ăn thì cho bánh vào chén, ngắt nhiều loại rau sống cho lên trên, chan nước chấm vào và thưởng thức. Tuy nhiên, người Vũng Tàu ăn bánh khọt hoàn toàn khác, nước chấm chỉ có duy nhất một loại nước mắm pha chua ngọt. Khi ăn, người dân ở đây thường lấy một lá cải xanh, một lá xà lách, bên trên là các loại rau như diếp cá, đu đủ thái sợi, húng thơm... gắp một cái bánh khọt cho lên trên, cuốn tròn lại chấm vào nước chấm.


Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

Suối Yến

Suối Yến, suối yến, sy

Suối Yến là dòng suối hiền hoà, uốn lượn quanh co in bóng những dãy núi chập chờn tô điểm thêm cho thiên nhiên.
Trước khi vào vãn cảnh chùa Hương, các du khách phải đến bến đục và từ đây mới xuống thuyền đi dọc theo dòng suối vào chùa. Bến đục thuyền vào, bến trò thuyền ra. Và hàng ngày, tại thắng cảnh hương sơn có trên 4.000 con thuyền tấp nập trở khách vào ra. Đa số các thuyền ở đây đều được làm bằng sắt, có độ dày khoảng 2 ly và có thể chở được hàng chục người. Với những chiếc thuyền lớn có thể chở tới 35 người một lúc. Mỗi thuyền có một sơn nữ với cái dáng mềm mại mỗi khi gập người khua mái chèo đưa khách vào vãn cảnh chùa.

  Trên suối yến lúc nào cũng có thuyền vào, ra tấp nập, song không mấy khi có cảnh thuyền bè va chạm vào nhau bởi lẽ đường vào và đường ra trên dòng suối đã được phân định rất rõ ràng. Tất cả đều đi theo một trật tự nhất định. Thuyền nọ đi sát thuyền kia. Không có cảnh lạng lách, vượt ẩu như khi tham gia giao thông trên bộ. Đi trên suối yến dường như ta đang được gột rửa mọi bụi bẩn của cõi trần tục để đến với cõi thần tiên chay tịnh. Đường suối chỉ dài chừng 4 km, song do có sự uốn lượn quanh co giữa các đoạn, các khúc theo các dãy núi nên dù có cố phóng hết tầm mắt thì các du khách cũng khó lòng thấy được điểm kết thúc. Từ đây, du khách có thể thả hồn, nhìn ngắm cảnh vật xung quanh với những dãy núi, ngọn cây, hay đồng hành cùng những vạt lúa non tơ viền 2 bên mép nước… và lắng nghe tiếng kể dìu dặt của những cô sơn nữ chèo thuyền kể về các truyền thuyết, sự tích trên các đoạn đường mà thuyền vừa đi qua.


Trên dòng, nước xanh trong veo, du khách có thể soi mình hay buông những cánh tay trần xuống nước để mặc cho chúng vuốt ve âu yếm. Đôi khi những cô bé, cậu bé không kìm được sự hiếu động của bản thân đã đập mạnh những cánh tay xuống nước làm cho bọt nước bắn tung toé, ướt cả những người xung quanh. Song dường như không một ai cảm thấy khố chịu về điều đó mà ngược lại còn thấy vui lây vì sự hiếu động ấy. Bên cạnh đó, khi đi trên suối, du khách còn được ngắm nhìn những đám rong mềm mại lay động dưới mặt nước trong xanh. Mỗi khi có một mái chèo khoả sâu vào trong nước thì đám rong rêu ấy xô dáp vào nhau như đang thì thầm kể cho nhau nghe chuyện về các du khách ngày ngày đã đi qua đây… Đoạn đường suối tuy ngắn ngủi, song nó lại là nơi yên tĩnh nhất trong thắng cảnh hương sơn. Những con thuyền ngày ngày vẫn cần mẫm đưa du khách đến vãn cảnh Hương Sơn không ồn ào, vội vã. Chúng đủng đỉnh lướt nhẹ trên mặt nước, để du khách có thời gian để tĩnh tâm, để nhìn ngắm thiên nhiên và tận hưởng không khí thần tiên...

    Mỗi du khách khi vào vãn cảnh Hương Sơn bằng đường thuỷ đều phải qua suối yến hai lần. Một lần vào, một lần ra. Song con đường ấy dường như không làm cho du khách cảm thấy nhàm chán. Mà ngược lại ở mỗi chiều, dù là đi hay về, thì suối yến vẫn mang đến cho du khách những cảm nhận bất ngờ. Song có lẽ điều lôi cuốn nhất của dòng suối là sự yên tĩnh, thanh bình cũng như sự hoà hợp giữa non và nước. Đúng là “Sơn Thuỷ hữu tình” như ai đó đã nói. Và nếu ai đó, chưa một lần được đến Hương Sơn, thì hãy thử để cùng cảm nhận về sự quyến rũ của suối yến trong xanh cùng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ của danh thắng Chùa Hương.

Khách Sạn Hòa Nam Xã Hòa Nam, Ứng Hòa, Nội là một trong những khách sạn tại hà nội phù hợp với bạn khi đến đây.
Khách sạn đạt chuẩn 3 sao theo tiêu chuẩn quốc tế, nằm trên vị trí đắc địa: nằm ngay khu tổ hợp trung tâm thương mại Hiền Lương, là nơi giao thương của hai huyện Ứng Hòa và Mỹ Đức. Khách sạn gồm 55 phòng nghỉ, nhà hàng, tổ hợp khu giải trí với 10 phòng karaoke hiện đại và 01 khu spa và nhiều phòng chức năng khác. Tất cả các phòng đều được thiết kế tỉ mỉ tới từng chi tiết và đáp ứng những tiêu chuẩn cao nhất của khách du lịch theo mùa.  

Chùa Thiên Trù là điểm đến tiếp theo:

Chùa Thiên Trù, chùa thiên trù, thiên trù, ctt, tt

Trong tuyến hành trình Hương – Thiên, thì Đền Trình – Thiên Trù – Hương Tích là 3 điểm dừng chân chính của bất kỳ du khách nào về với Chùa Hương. Sau khi làm lễ trình Sơn Thần ở Ngũ Nhạc Linh Từ (Đền Trình) du khách lại tiếp tục xuôi dòng Suối Yến cùng người lái đò để đi đến điểm dừng chân thứ hai là Thiên Trù.
Chùa Thiên Trù tọa lạc trên thềm núi Lão được xây dựng từ năm Đinh Hợi (1467) đời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận thứ 8. Theo một số sử ký còn lưu lại có chuyện kể rằng: trong một chuyến tuần thú phương Nam lần thứ hai, Vua Lê Thánh Tông cùng tướng sĩ qua vùng núi Hương Sơn nghỉ lại ở Thung Lũng núi Lão và cho quân lính thổi cơm ăn. Trong lúc thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên, Vua xem thiên văn thấy vùng này ở vào vị trí của sao Thiên Trù (Bếp Trời - một sao chủ về ăn uống), nên nhân đấy nhà Vua đặt tên cho thung lũng này là Thiên Trù. Sau lần đó, có 3 vị Hoà thượng (Tỷ Tổ Bồ Tát) tới đây dựng thảo am để tu hành và đặt tên là Thiên Trù Tự (chùa Thiên Trù). Nhưng sau 3 vị Hoà thượng này, việc trụ trì ở Chùa Thiên Trù bị gián đoạn nhiều năm.
    Đến niên hiệu Chính Hoà năm thứ 7 (1686) đời Vua Lê Trung Hưng, Hoà thượng Vân Thuỷ Thiền Thiên Trần Đạo Viên Quang được Vua phong Thượng lâm viện Viên Giác Tôn Giả Ty Tăng Lục (thời Lê, Ty Tăng Lục được lập ra để chăm sóc, cai quản các vị tu hành) tới đây tái lập đạo Phật, phát triển Phật giáo và cùng hương dân nơi đây xây dựng lại ngôi Tam Bảo, trùng hưng Thiên Trù Tự.
    Tiếp sau Hoà thượng Trần Đạo Viên Quang việc trụ trì và phát triển Phật giáo ở đây lại gián đoạn một lần nữa. Phải đến 20 năm sau, tức vào năm 1707, có Đại sư Thông Lâm tới trụ trì và tiếp tục cùng hương dân thôn Yến Vĩ xây dựng Chùa Thiên Trù thành ngôi Tam Bảo lợp bằng lá 5 gian và 6 gian tả, hữu vu để thờ Phật và tu hành. Kế thừa Đại sư Thông Lâm là Hoà thượng Thanh Quyết trụ trì. Với sự giúp đỡ của các tín đồ, phật tử, thiện tín muôn phương, chính điện chùa Thiên Trù được khởi công xây dựng vào năm Mậu Thân niên hiệu Duy Tân thứ 2. Sang đời trụ trì của Đại sư Thanh Tích công việc xây dựng kiến thiết vẫn được tiếp tục triển khai và kéo dài gần 10 năm, để rồi Thiên Trù trở thành một lâu đài nguy nga tráng lệ giữa núi rừng Hương Sơn, hiện lên như một kiến trúc nghệ thuật độc đáo.
    Chùa Thiên Trù được xây dựng trên một mảnh đất hình chữ nhật chạy dài suốt từ sân dốc cho tới bức tường ngăn giữa khoảng đất bằng phẳng và núi Sau Chùa. Kiểu kiến trúc của Thiên Trù có tên là “Ngũ môn tam cấp” - tức năm cửa ba bậc. Qua cổng là đến sân. Hai bên sân là hai dãy nhà tranh làm nơi ăn nghỉ cho du khách trong ngày hội. Qua sân là đến bảo thềm thứ nhất – đây cũng là một cái sân. Trước bảo thềm này có đặt một đỉnh đồng cao 3m dùng để khói nhang. Qua sân bảo thềm thứ nhất là đến bảo thềm thứ hai – là một cái sân cao hơn. Hai bên sân bảo thềm thứ hai là những gian nhà cầu cho khách ngủ trọ. Tiến đến sân bảo thềm thứ ba cao hơn một chút, qua hai cửa tam quan nối vào Tam Bảo chính là nơi thờ Phật. Hai bên Tam Quan là gác trống bên trái và gác chuông bên phải. Hai bên Tam Bảo là hai bể nước, các buồng sư, buồng cung văn, nhà dấu, nhà oản,…vv. Phía sau Tam Bảo là điện Thánh Mẫu bên trái, gác tàng thư, nhà Tổ ở giữa và Thiên Thuỷ tháp bên phải.
Có thể nói Chùa Thiên Trù là một công trình kiến trúc văn hóa nghệ thuật Lê -Nguyễn. Sự bố cục rất hài hòa:tam bảo, tiền đường, nhà thờ tổ, nhà thờ mẫu, nhà khách, các nhà kho…có đủ phương tiện sinh hoạt cho hàng trăm người nghỉ lại lễ Phật qua đêm. Đây là một ngôi chùa nổi tiếng thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX


Một góc chùa Thiên Trù

Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) giặc Pháp đã đánh và ném bom ra vùng đất Hương Sơn 3 lần (1947, 1948 và 1950). Ngày 11 tháng 2 năm 1947 (tức năm Đinh Hợi) Tam Bảo và một số công trình đã bị giặc Pháp tàn phá. Trong suốt 15 ngày, Chùa Thiên Trù bị lửa thiêu không sao dập tắt nổi. Đến năm 1950, lại một lần nữa giặc Pháp cho máy bay ném bom tàn phá toàn bộ các công trình, chỉ còn lại vườn Tháp là không bị tàn phá nặng nề. Sang năm 1951 (tức năm Tân Mão), Hoà thượng Thanh Chân đã cho dựng lên từ đống tro tàn đổ nát 6 gian nhà tranh để có nơi tu hành và nhang khói.


    Sau khi hoà bình lập lại trên đất Bắc, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với sự đóng góp công đức của thập phương, Hoà thượng Thích Thanh Chân cùng chính quyền và nhân dân địa phương đã khởi dựng 7 gian nhà khách khang trang vào năm Mậu Tuất (1958), tạm thời làm nơi thờ Phật và để thập phương về Lễ hội dâng hương, từng bước xóa dọn vết tích chiến tranh.
    Từ năm 1984 đến 1985, Ty Văn hoá – Thông tin Hà Sơn Bình (nay là Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Hà Tây) đã cùng nhà chùa tranh thủ sự ủng hộ của du khách thập phương, xây dựng lại gác chuông 8 mái theo kiểu chùa Ngăm ở giữa sân Thiên Trù. Đặc biệt, kể từ năm 1989 Ban xây dựng chùa Hương đã được thành lập do Hoà thượng Thích Viên Thành làm Trưởng ban. Kể từ đây, Ban xây dựng Chùa Hương đã vận động nhân dân, phật tử thập phương cùng sự chỉ đạo của ngành văn hoá tỉnh đã khởi công xây dựng toà Tam Bảo (ngày 18 tháng 3 năm 1989), và đến ngày 11 tháng Giêng năm 1991 thì được khánh thành. Năm 1992 Ban xây dựng khởi công xây dựng điện Hương Thuỷ và khánh thành vào ngày 11 tháng Giêng cùng năm. Điện Hương Thuỷ là nơi thờ tượng Mẫu Liễu Hạnh - người được mệnh danh là Mẫu nghi thiên hạ. Đây là công trình mang phong cách dân gian của nhà điêu khắc Trần Tuy. Năm 1993, Tổ đường và Bảo điện phía sau Tam Bảo được xây dựng và khánh thành vào ngày 11 tháng Giêng năm Quý Dậu (1993). Cùng năm này, động Vân Thuỷ Thiền Thiên nằm phía trên Thiên Thuỷ Tháp, nơi thờ Thượng ngàn chúa tể cũng được khai mở khánh thành. Năm 1994, cổng Nam Thiên Môn cũng được hoàn thành vào đúng ngày  11 tháng Giêng, đứng sừng sững giữa núi rừng Hương Sơn.
    Trải qua hai thập niên qua, Chùa Thiên Trù luôn được tô điểm thêm những nét vẽ cho bức tranh thiên nhiên hùng tráng bằng những công trình kiến trúc đặc sắc. Được như vậy là nhờ công đức to lớn của tín đồ, du khách thập phương, của nhân dân sở tại và đặc biệt là sự cố gắng chăm lo vun đắp của cố Thượng toạ Thích Viên Thành và Đại đức Thích Minh Hiền - người đang giữ vị trí trụ trì Chùa Hương.
    Hiện nay, với quần thể kiến trúc nguy nga, hoành tráng, Thiên Trù trở thành trung tâm của thắng cảnh Hương Sơn.


Dòng người đông đúc tại chùa Thiên Trù.

Đặc sản nơi đây

Dac san chua Huong
Rau sắng.
Chè củ mài, mơ quả hay rau sắng chùa Hương là ba món ngon nổi tiếng của vùng Hương Sơn, Hà Tây, luôn để lại ấn tượng khó quên với khách du lịch.
Dac san chua Huong
Chè củ mài
Cứ mỗi độ tháng 2, tháng 3 âm lịch, khi hoa gạo "thắp lửa" chốn Phật thiền, cũng là lúc cả rừng mơ ở Hương Sơn vào mùa trái chín, tỏa hương thơm ngào ngạt khiến nhiều khách phương xa bâng khuâng nửa ở nửa về.
Nhờ thổ nhưỡng đặc biệt của vùng núi đá vôi nên mơ chùa Hương nổi tiếng khắp đất Bắc bởi quả to, hạt nhỏ, cùi dày và mọng nước, vị chua nhẹ, thanh mà không gắt. Đặc biệt, mơ chùa Hương có tới bốn loại khác nhau, được cư dân phân biệt và đặt tên theo mùi vị và mầu sắc, đó là mơ đào, mơ chấm son, mơ bồ hóng và mơ nứa.
Dù ăn tươi hay dùng để ngâm rượu, làm xí muội, ô mai... cả bốn loại trên đều cho mùi vị thơm ngon đặc biệt, vừa có tác dụng chữa bệnh đường ruột, mất tiếng, phù thũng, viêm họng... vừa để an thần và giải khát.
Giữa trưa nắng nóng, còn gì sảng khoái hơn được giải khát bằng một ly mơ ngâm chua ngọt hay nhấp ngụm nước "lão mai" thơm mát được nấu từ gỗ cây mơ già hàng trăm tuổi.
Còn nếu muốn tìm một món ăn chơi để nhâm nhi cho đỡ buồn giữa lúc dừng chân nghỉ mệt trước khi tiếp tục chuyến hành hương, khách có thể ghé vào các quán ven dường, gọi chén chè củ mài và thưởng thức cái thú ẩm thực thanh cảnh nơi cửa Phật.
Củ mài vỏ đen, ruột trắng, nhìn hơi giống củ khoai lang nhưng to gấp hai, ba lần. Khi nấu chè củ mài, người ta không xắt miếng, cũng không xay hay giã thành bột mà một tay cầm củ, một tay cầm con dao cau thật sắc, thoăn thoắt gạt từng miếng củ thả dần vào nồi nước đường đã đun sôi. Khi chè chín, củ dẻo mềm một cách đặc biệt, vị lại thơm ngon, ngọt mát vô cùng.
Bên cạnh mơ lông và củ mài, rau sắng là một sản vật đặc biệt khác của Hương Sơn. Là một loại cây thân mộc, ưa ánh sáng, mọc tự nhiên trên những vách núi đá hiểm trở nên rau sắng được xếp vào hàng cực phẩm, nổi tiếng thơm ngon mà lại giàu chất dinh dưỡng.
Lá non rau sắng có mầu xanh thẫm, óng ả, mùi vị đậm đà nên chỉ cần vài nhánh là đã đủ nấu một bát canh cho bốn người ăn.
Canh rau sắng có thể nấu với thịt, cá, tôm... nhưng theo khách sành ăn, ngon nhất vẫn là bát canh rau sắng nấu suông, nêm thêm một chút muối cho có vị.
Có chậm rãi nhai từng chiếc lá nhỏ, thưởng thức thật kỹ vị ngọt, vị bùi khó tả của rau sắng thì mới hiểu tại sao món ăn này được thực khách gần xa ưu ái đến vậy.